BỆNH VIỆN TRẢ VỀ, PHẬT PHÁP CỨU SỐNG

0
3753

Cuốn sách “BỆNH VIỆN TRẢ VỀ, PHẬT PHÁP CỨU SỐNG” do Quang Tử chủ biên là một tập hợp những câu chuyện người thật việc thật, với đa số có họ tên, địa chỉ rõ ràng ở Việt Nam, kể về những bệnh nhân bị ung thư, xương khớp, tim mạch, trĩ, thương tật do tai nạn .v.v… đủ các chứng bệnh nặng nhẹ  mà Đông Tây y đều đã chịu thua trước bệnh tình của họ. Nhưng cuối cùng, họ đã tìm được cách chữa lành bệnh hết sức kì diệu nhờ những phương pháp tu của Đạo Phật.

VÌ SAO HỌ BỊ BỆNH ? PHẬT PHÁP ĐÃ LÀM CÁCH NÀO CHỮA KHỎI BỆNH CHO HỌ ?

Mời quý vị và các bạn cùng tìm hiểu cuốn sách “BỆNH VIỆN TRẢ VỀ, PHẬT PHÁP CỨU SỐNG” với đầy đủ video – văn bản – file PDF ngay dưới đây. Xin trân trọng giới thiệu cùng quý vị.

  • 15 Video “Chữa bệnh không cần thuốc” chuyển thể từ sách.
  • Văn bản đầy đủ của sách.
  • Nếu bạn có nhu cầu in sách “BỆNH VIỆN TRẢ VỀ, PHẬT PHÁP CỨU SỐNG” để đọc hoặc tặng cho mọi người, bạn có thể download file PDF của sách phía bên dưới và in tại các tiệm Photocopy, nhà in.  Bấm vào link dưới đây: ⇒    BỆNH VIỆN TRẢ VỀ, PHẬT PHÁP CỨU SỐNG (2019) 
  • Bìa sách :

15 VIDEO “CHỮA BỆNH KHÔNG CẦN THUỐC”

( Nếu chưa thấy video hiện lên, bạn vui lòng chờ thêm vài giây…)

3 bước ” thần thánh” giúp CHỮA KHỎI BỆNH nhanh hơn bao giờ hết theo Phật dạy 

 


 

 

CHỮA UNG THƯ thành công bằng cách PHÓNG SINH – người thật việc thật ở Vũng Tàu

 

 


 

 NGỠ NGÀNG VỚI KHẢ NĂNG CHỮA LÀNH UNG THƯ CỦA CHÚ VÃNG SINH

 

 


 

BỆNH XƯƠNG KHỚP KINH NIÊN 

 


 

UNG THƯ LƯỠI – NGUYÊN NHÂN & CÁCH TRỊ

 


 

NIỆM PHẬT LÀNH BỆNH KINH NIÊN

 

 


 

ĐẾN BÁC SĨ CŨNG PHẢI NHỜ PHẬT PHÁP MỚI LÀNH BỆNH

 


 

KHỎI BỆNH NHỜ SÁM HỐI & CHÚ ĐẠI BI

 


 

BỊ CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO, NHỜ CẢ NHÀ NIỆM PHẬT MÀ SỐNG LẠI

 


 

SÁM HỐI VỚI OAN GIA

 


 

LẠY PHẬT DIỆT UNG THƯ

 


 

PHÓNG SINH TRỊ BỆNH

 


 

 BỆNH MA NHẬP

 


 

BỆNH DO RẮN BÁO THÙ

 


 

 TỤNG CHÚ ĐẠI BI TRỊ UNG THƯ CỔ TỬ CUNG & HO RA MÁU

 

 


 

BỆNH VIỆN TRẢ VỀ, PHẬT PHÁP CỨU SỐNG

(Nhiều tác giả – Quang Tử chủ biên)

LỜI TỰA
Bệnh tật – đó là một bóng ma bất tử đã đeo đuổi con người từ ngàn xưa tới nay chưa từng gián đọan. Cho dù hiện nay, với nền khoa học thế kỉ 21 được xem là đỉnh điểm của sự tiến bộ nhân loại, khi mà các nhà khoa học đã phóng được tàu vũ trụ, lập được bản đồ gen, chế tạo được đủ thứ máy móc tinh vi nhất… dù thế nhưng họ chẳng thể đẩy lui bệnh tật vào dĩ vãng.
Nhân loại vẫn luôn sống chung với bệnh tật. Những bác sĩ giỏi nhất của những bệnh viện tối tân nhất thế giới vẫn thường ngậm ngùi mà nói với bệnh nhân rằng :
“ Chúng tôi đã cố gắng hết sức …”
Vì rằng, luôn có những căn bệnh được liệt vào dạng vô phương cứu chữa, và hơn nữa, khi y học chưa kịp chế ra các phương pháp trị dứt các căn bệnh có từ trước, thì các căn bệnh mới đã phát sinh. Y học luôn luôn không theo kịp bệnh tật. Trong thực tế, sự thật còn phũ phàng hơn, vì cho dù có thuốc chữa , nhưng không phải bệnh nhân nào cũng có đủ tiền để chữa. Nhân loại vẫn ngày ngày bị hành hạ bởi bệnh tật, ngày ngày chết đau đớn vì bệnh tật.
Vậy nguyên nhân gì đưa tới bệnh tật ?
Khoa học trả lời rằng , đó là do vi khuẩn, virus, độc tố, các yếu tố môi trường khác.v.v…. Nhưng nếu hỏi tiếp: vậy tại sao những người sống chung một môi trường, hít thở chung một bầu không khí chứa các loại vi khuẩn giống nhau, điều kiện như nhau thì có người bị bệnh này, có người bị bệnh khác, có người không bệnh gì cả, thật sự có một quy luật khoa học nào xác định được một người – với tố chất như thế nào , điều kiện như thế nào thì sẽ bị bệnh gì hay không bị bệnh gì không ?
Đây là một thách thức không có lời giải đáp đối với khoa học. Vì chẳng có định luật khoa học nào xác định chính xác được với người như thế này, điều kiện môi trường như thế sẽ bị hay không bị bệnh gì. Với khoa học, mọi chuyện đều có thể xảy ra. Cùng lắm thì họ chỉ phỏng đóan được xác xuất bao nhiêu phần trăm đó mà thôi.
Vậy do đâu? Nguyên nhân gốc rễ thật sự của bệnh tật là do đâu ?
Đây là câu trả lời, nghe rất khó tin nhưng đây mới là sự thật : do Nhân quả Nghiệp báo. Có một quy luật đứng đằng sau tất cả các bệnh tật và đau khổ. Nó quy định người này sẽ bị bệnh gì, người kia sẽ bị bệnh gì, có chữa được không .v.v….Và cũng chính từ trong quy luật này, mà ta sẽ có được cách trị hết bệnh. Đó chính là quy luật Nhân quả Nghiệp báo.
Nhiều người nghĩ rằng luật Nhân quả là do Đức Phật chế ra để răn dạy con người . Nhưng không phải, trước Đức Phật , đạo Bà – la – môn đã nói đến Nhân quả, sau Đức Phật , Chúa Jesus cũng nói đến Nhân quả, ví dụ như “ Ai dùng gươm sẽ phải chết vì gươm”, bàng bạc trong nền văn hóa dân gian khắp thế giới đều nhắc tới luật nhân quả, như ở Việt Nam , thì đó là “ Gieo nhân nào gặp quả nấy”.v.v… Bởi vì rằng, luật Nhân quả là quy luật phổ cập khắp vũ trụ, mọi lúc, mọi nơi… và chỉ cần là người có trí tuệ, đều sẽ nhận ra sự có mặt của quy luật này.
Sự khác biệt nằm ở chỗ, Đức Phật là người hiểu rõ ràng nhất, sâu xa nhất về Nhân quả Nghiệp báo, và cũng chính Đức Phật là người chỉ ra những phương pháp dùng luật Nhân quả để điều trị những căn bệnh mà Đông y hay Tây y đều bó tay. Đó mới là điều quan trọng nhất.
Cuốn sách này, là một tập hợp ít ỏi trong vô số những trường hợp mà Đông Tây y đều đã chịu thua, nhưng cuối cùng được lành bệnh nhờ những phương pháp tu của Đạo Phật.
Thông qua sách, bạn sẽ tìm ra cho mình cách để tự bản thân mỗi người có thể chữa lành bệnh tật, có lẽ trừ bệnh HIV và trường hợp mạng số đã tận ra, thì từ bệnh nan y như ung thư cho đến các bệnh thông thường khác đều có thể khỏi, mà chẳng hề tốn kém như cách chữa trị của bệnh viện. Và trong một số trường hợp, những phương pháp trong sách này đề cập, chính là niềm hi vọng cuối cùng cho bệnh nhân để chiến thắng được bệnh tật.
_ Quang Tử_

Đầu năm 2016, chúng tôi lần đầu tiên cho phát hành cuốn sách này, vài tháng sau, tôi nhận được một cuộc điện thoại từ một bệnh nhân xương khớp ở Hà Nội, bác tên Phạm Thị Hiền. Bác ấy kể rằng, bệnh của bác đã lành hẳn từ sau khi đọc, và thực hành theo những phương pháp trong sách này.
Đến năm 2018, một bệnh nhân ung thư ở Củ Chi, TP. HCM, cũng gọi điện kể cho tôi kì tích khỏi bệnh ung thư của bác, nhờ thực hành theo hướng dẫn trong sách.
Điều đó cho ta thấy rằng, những gì nói trong cuốn sách này, không phải chỉ là “lí thuyết suông”, mà đó là một quy luật được kiểm chứng bằng thực tế. Hai câu chuyện này, cũng như rất nhiều chuyện khác trong sách, đều có ghi rõ họ tên, địa chỉ của nhân vật chính, bạn có thể kiểm chứng nếu muốn. Ngay sau đây là hai câu chuyện nói trên.


 

TÔI ĐÃ KHỎI BỆNH NHƯ THẾ.

“Tôi tên Phạm Thị Hiền, sinh năm 1934, hiện sống tại số 9 ngõ 78 Phố Thái Thịnh, Hà Nội. Gần hai mươi năm nay, tôi bị chứng bệnh xương khớp, đau đầu gối, đau lưng… dày vò, dù đã chạy chữa khắp nơi, nào bệnh viện tư, nào thầy thuốc danh tiếng, nào là lương y gia truyền, cứ nơi nào báo đăng là có thầy thuốc giỏi là tôi tìm đến, có khi mấy trăm ngàn một thang thuốc mà uống chỉ đỡ được vài hôm là bị lại như cũ, không tài nào khỏi được.
Mà bệnh xương khớp ai bị rồi thì đều biết, nó hành hạ con người ta khổ sở tới mức nào, ngày đêm đau nhức, ăn không ngon, ngủ không yên với cái cơn đau dai dẳng ấy, cứ như có người cưa cắt, đục đẽo gì trong xương tủy mình vậy. Nhiều khi chỉ muốn tháo hẳn cái khớp này mà vứt quách đi cho xong, thế mà tôi cứ bị liên miên như thế suốt mười mấy hai chục năm trời.
Mới gần đây, con gái tôi thông qua facebook, có xin về một cuốn sách, tựa là “Bệnh viện trả về, Phật Pháp cứu sống”, tôi xem qua và như bừng tỉnh. Hóa ra trên đời này quả thực có báo ứng, có nhân, có quả , chi ly từng chút không hể sai sót. Đáng sợ thật !
Và cứ thế tôi vừa đọc, vừa hồi tưởng lại những sai lầm suốt hơn tám mươi năm cuộc đời của mình. Có những câu truyện tôi xem qua mà như thấy chính mình trong đó, cũng tội lỗi như thế, cũng báo ứng như thế, khiến tôi thực sự thấm thía cái đạo lí nhân quả , nghe thì thấy thường, vì tôi từng này tuổi thì cũng đã nghe người ta nói chán rồi, nhưng để thấm thía thì lại là chuyện khác.
Thế là, tôi bắt đầu thực hành theo những phương pháp trong cuốn sách ấy. Đầu tiên là sám hối. Tôi lần lượt nhớ lại những sai lầm thủa xưa mình đã trót phạm.
Tôi đã từng mang thai hai mươi tư lần, sinh ra chín người con, sẩy hai lần, và… phá bỏ mười ba cái thai nhi. Đối với một người phụ nữ ở thế hệ của tôi, thì có lẽ chuyện này bình thường, vì khi ấy đất nước còn nghèo, các phương pháp tránh thai rất hạn chế. Nhưng không ngờ đó là nguyên nhân chủ yếu khiến tôi bị dày vò bệnh tật như thế này. Chính các vong linh thai nhi đó ôm mối căm hận, bám theo tôi mà hành hạ, thành ra bệnh tật như thế. Chừng nào các vong linh ấy chưa siêu thoát, thì sao mà khỏi bệnh được.
Trước kia tôi theo Tứ Phủ , hầu đồng cũng nhiều, nhưng việc ấy không có kết quả gì. Cũng từng sám hối chung chung các tội, nhưng chưa cụ thể. Đến giờ tôi nhận ra tội lỗi to lớn của mình, theo như hướng dẫn trong sách, tôi hướng tâm đến những oan gia trái chủ của mình , chính là mười ba vong linh thai nhi đã phá bỏ, thành tâm sám hối, thành khẩn nói lên lời xin lỗi, rồi xin được tụng kinh, niệm Phật cầu cho các vong thai ấy đều được siêu sinh về Tây Phương Cực Lạc.
Tôi kiên trì niệm Phật hơn một tháng, kết hợp với tụng kinh Kim Cang, chú Đại Bi, hết thảy công đức đều xin hồi hướng cho các thai nhi đã phá bỏ, cùng với các vị oan gia trái chủ khác. Kì diệu thay, chứng đau nhức gần hai chục năm qua, bao nhiêu thuốc không khỏi, thế mà nay đỡ dần, đỡ dần, rồi khỏi hẳn. Chẳng phải uống thuốc gì cả, mà chính cái tâm thành sám hối, ăn năn, cùng với câu niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”, với những bài kinh chú của Đức Phật là liều thuốc thần diệu, chữa lành căn bệnh trên thân tôi, và cả trong tâm hồn tôi.
Bỗng dưng một đêm, khi mà bệnh đã đỡ hẳn, tôi đột nhiên bị đau trở lại. Từ chỗ đầu gối trở xuống bị đau nhức dữ dội, không tài nào ngủ được. Tôi liền kiểm lại, không biết còn tội gì mà mình chưa sám hối không ? Được một lúc, tôi chợt nhớ ra. Thôi chết , còn một tội này tôi đã bỏ sót !
Hồi trẻ, trong lúc kinh tế khó khăn, sợ mấy đứa con còn nhỏ thiếu dinh dưỡng, tôi hay đi bắt những con cóc về, đặt lên thớt, chặt đứt đôi chân rồi nấu nướng. Còn thân mình thì quăng bỏ. Để cải thiện bữa cơm cho đám con thơ, mà tôi đã gieo rắc kinh hoàng, đau đớn cho rất nhiều chú cóc tội nghiệp như thế. Có lẽ vì nay tôi đã biết ăn năn, tu tập, nên các vị oan gia “Cóc” ấy tìm về đòi nợ một thể.
Thế là, tôi liền khấn với các vị “ Cóc” ấy, xin sám hối tội giết hại, chặt chân các vị, xin các vị ấy tha cho tôi. Sau đó thì tôi niệm Phật cầu cho các vị ấy siêu thoát, và cơn đau từ từ lắng xuống rồi biến mất.
Đến nay, tôi có thể đi lại bình thường, không còn đau đớn nữa. Trong khi bao nhiêu người trẻ hơn tôi, trong cái lạnh mùa Đông ở Bắc Bộ cắt da cắt thịt cũng còn thấy đau nhức, mà tôi giờ lại chẳng hề hấn gì, sức khỏe ngày càng tốt hơn. Tôi cũng thường đem cuốn sách “Bệnh viện trả về, Phật Pháp cứu sống” ấy, photo ra nhiều bản, tặng cho những người bị bệnh nặng, tự tin mà nói với họ rằng : ‘ Cứ theo đó mà thực hành , nhìn tôi đây này…” Mong rằng họ cũng sẽ được Phật Pháp cứu chữa, như tôi đã từng được cứu chữa, cả về thể xác lẫn linh hồn.
Phật Pháp quả thật nhiệm màu, lời Phật dạy quả thật là chân lí. Trăm người thực hành, trăm người thấy linh ứng. Ngàn người tu tập , ngàn người đều được an vui.”


NGỠ NGÀNG VỚI KHẢ NĂNG CHỮA LÀNH UNG THƯ CỦA CHÚ VÃNG SINH.

Bác Hà Thị Dém, sinh năm 1945, ngụ tại ấp Phú Mỹ, xã Phú Hòa Đông, Củ Chi, Tp. HCM, năm 2017, bác thấy khó chịu trong người nên đi khám. Sau khi xét nghiệm kĩ càng, bác sĩ thông báo cho bác một tin rụng rời, bác đã bị ung thư cổ tử cung, cần đưa qua bệnh viện Ung Bướu điều trị.

Sau khi chuyển qua ệnh viện Ung bướu, bác bắt đầu trải qua những tháng ngày thống khổ. Vốn bác không có chồng con, sống độc thân đến nay đã 76 tuổi. Tuổi già sức yếu, cũng không phải khá giả gì lắm, nay lại mắc thêm căn bệnh này, phải điều trị trường kì ở bệnh viện Ung bướu, thật hết sức thống khổ.
Ai đã từng trải qua thời gian trị bệnh hay chăm người bệnh ở đây thì đều rõ, cái nỗi khổ của chốn địa ngục trần gian này. Nơi nơi đều là những tiếng rên rỉ đau đớn của người bệnh, là những hơi thở dài não nề của thân nhân, là những gương mặt khổ não, tuyệt vọng.
Mọi thứ đều quá tải, bệnh nhân không chỉ có chật kín các giường bệnh, mà la liệt cả dưới gầm giường, hành lang, gầm cầu thang, cửa tolet… Người có tiền bệnh đã khổ sở đã đành, người nghèo bệnh, thì khổ chồng thêm khổ, thậm chí cơm chẳng có mà ăn, phải trông chờ vào những bữa cơm, những bát cháo từ thiện…
Bác đành bỏ một số tiền mười mấy triệu, thuê một người chăm sóc cho bác trong thời gian nằm viện. Họa vô đơn chí, người đó nhận tiền, chỉ được mấy hôm đã trốn đi, bỏ bác lại lủi thủi một mình trong cơn bệnh hoạn khổ sở .
Những ngày tháng tiếp theo, bác phải tiến hành điều trị, hết mổ rồi đến xạ trị, nhưng cơ thể cũng không thấy tốt hơn gì, vẫn cứ là đau đớn dày vò & hết sức mỏi mệt. Toàn thân xanh xao, ốm yếu.
Một hôm trong lúc buồn bã cảnh già nua, bệnh tật, lại đơn độc chống chọi một mình, bác lững thững ra cổng bệnh viện Ung Bướu, thì thấy tôi cùng các anh em đang phát tặng cơm chay, và tặng sách.
Bác lại hỏi xin và được chúng tôi tặng cho một quyển “Bệnh viện trả về, Phật Pháp cứu sống”.
Cầm quyển sách trên tay, bác cười nhạt và nghĩ thầm : “ Bệnh viện với đủ thứ máy móc tối tân, bác sĩ chuyên nghiệp như ở đây còn chẳng trị được, Phật Pháp nào mà chữa được bệnh.”
Thế rồi bác cầm sách nhét vào một chỗ, chứ cũng chẳng thèm đọc.
Gần 3 tháng nằm viện khổ sở ( từ 19/1 đến 6/4/2018) hết uống thuốc rồi mổ, hết mổ rồi đến xạ trị, ngày ngày vật vờ với cơn đau đớn, mỏi mệt trong bệnh viện Ung Bướu. May mắn được một số Mạnh Thường Quân hỗ trợ thêm tiền viện phí, xong cũng không thấy khỏe hơn gì.

Chứng kiến biết bao nhiêu người ở đây khánh kiệt vì mổ xẻ, hóa trị, xạ trị… xong rồi cũng chết. Cùng đợt mổ với bác có 24 người, hầu như đã chết cả, có người còn là người nhà bác sĩ, tiền bạc dư giả, không ngại tốn kém, rồi cũng chẳng chạy thoát khỏi bàn tay tử thần, thì bác đâu có hi vọng gì, mà bác lại là trường hợp bệnh nặng nhất trong đó mới khổ.
Tuyệt vọng, bác quyết định không chạy chữa nữa, xin xuất viện về nhà, khấn vái cửu huyền thất tổ thương tình mà cho bác ra đi nhẹ nhàng không đau đớn là tốt lắm rồi.
Về nhà rồi, bà con chòm xóm đến thăm hỏi, ai cũng nhìn bác mà thương cảm, bệnh tật dày vò khiến cơ thể xanh xao, yếu rớt, ăn uống chẳng được, bác lại chỉ độc có một mình, không ai chăm sóc, họa chăng chỉ có vài người quen đến thăm nom chút rồi về.
Được khoảng vài ngày, buồn khổ & tuyệt vọng, cũng không có việc gì để làm, chợt nhìn thấy quyển sách “Bệnh viện trả về, Phật Pháp cứu sống”, bác lấy ra đọc cho đỡ buồn, chứ cũng chẳng trông mong gì. Không ngờ, sách lại hay như vậy, chỉ vài tiếng đồng hồ là bác đã đọc hết.

Trong sách, bác thấy nhiều trường hợp, thậm chí còn nguy kịch hơn bác nhiều, như một em bé bị bác sĩ trả về để chờ làm đám tang, nhờ mọi người đến niệm Phật cho mà cuối cùng khỏe lại trước sự kinh ngạc của Bệnh viện. Họ tên, địa chỉ rất rõ ràng, chứ không phải chuyện đơm đặt không thể kiểm chứng.
Điều đó khiến bác suy nghĩ lại, những phương pháp trong sách hướng dẫn, chủ yếu là niệm Phật, đọc thần chú, sám hối… cũng chẳng hề tốn kém gì cả. Chỉ là đem tâm sức mình mà tụng niệm, thành tâm là được. Mình đến nước này thì đã chẳng còn gì để mất, cũng chẳng còn lối thoát nào khác mà phải đắn đo. Thôi thì cứ thực hành theo xem sao.
Bác bắt đầu niệm Phật, lạy Phật, và đọc tụng theo chú Đại Bi in trong sách, ngày đọc 3 lần. Đặc biệt là chú Vãng Sinh, cứ rảnh là bác đọc, vì thần chú rất ngắn và dễ thuộc, chẳng bao lâu bác đã thuộc lòng. Chú Vãng Sinh là một thần chú trích từ kinh Niệm Phật Ba La Mật, nguyên văn trong kinh như sau:
“Lúc bấy giờ, ngài Phổ Hiền Đại Bồ Tát bạch Phật rằng:
– Thưa Thế-Tôn, con nay vì thương tưởng chúng sanh nơi thời Mạt pháp, khi ấy kiếp giảm, thọ mạng ngắn, phước đức kém thiếu, loạn trược tăng nhiều, kẻ chân thật tu hành rất ít. Con sẽ ban cho người niệm Phật thần chú Đà-ra-ni này, để thủ hộ thân tâm, nhổ tận gốc rễ nghiệp chướng, trừ sạch phiền não, được mau chóng sanh về Cực Lạc. Gọi là Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản Đắc Sanh Tịnh Độ Đà Ra N i. Ngài liền nói thần chú:
NAM MÔ A DI ĐA BÀ DẠ,
ĐA THA DÀ ĐA DẠ,
ĐA ĐỊA DẠ THA,
A DI RỊ ĐÔ BÀ TỲ,
A DI RỊ ĐA TẤT ĐAM BÀ TỲ,
A DI RỊ ĐA TỲ CA LAN ĐẾ,
A DI RỊ ĐA TỲ CA LAN ĐA,
DÀ DI NỊ DÀ DÀ NA,
CHỈ ĐA CA LỆ, TA BÀ HA.”

Và cứ thế, ngoại trừ lúc ngủ thì thôi, còn lại bác đều miên mật trì tụng chú Vãng Sinh cả ngày. Thật là kì lạ, bác thấy người dần dần hồi phục lại, có thể ăn uống được như trước. Khoảng một tuần sau, thì cảm thấy trong người khỏe mạnh như bình thường. Bác còn có thể ra sông vớt lục bình chở xe đạp về, trước sự kinh ngạc của hàng xóm láng giềng.
Rồi không lâu sau, bác còn mua cát, xi măng về xây mấy công trình phụ, mới đầu còn tính thuê người làm, sau thấy sức mình làm được nên bác tự làm luôn.
Vì xe chở cát, xi măng chỉ có thể đổ ở ngoài sân, lại không muốn nhờ ai giúp, nên bác cứ thong thả làm một mình. Xúc cát, kéo bao xi măng cả 50 kg ra phía sau nhà để xây, thật là không tưởng tượng nổi.
Vì xe chở cát, xi măng chỉ có thể đổ ở ngoài sân, lại không muốn nhờ ai giúp, nên bác cứ thong thả làm một mình. Xúc cát, kéo bao xi măng cả 50 kg ra phía sau nhà để xây, thật là không tưởng tượng nổi. Một bà lão bẩy mấy tuổi bị ung thư, mới đây còn tính đến chuyện lo hậu sự. Vậy mà giờ lại có thể khỏe mạnh đến như thế.

Bác theo số điện thoại in trong sách, gọi cho tôi, để kể cho tôi kì tích của bác. Nghe xong tôi thật sự kinh ngạc, tôi từng biết nhiều trường hợp nhờ tu theo Phật Pháp, có thể từ chỗ chắc chắn chết lại được bình phục. Nhưng bình phục nhanh và lại khỏe mạnh như bác Dém đây thì là mới thấy lần đầu.
Chúng tôi tìm đến địa chỉ của bác, và thực hiện phóng sự người thật việc thật về trường hợp của bác, đồng thời thêm câu chuyện của bác vào lần tái bản sách mới nhất. Hi vọng những ai có duyên thấy nghe, sẽ có thêm niềm tin & động lực để quay về, nương theo lời dạy của Phật mà thực hành, để đạt được những lợi ích vi diệu, cho đời nay cũng như cho muôn đời sau.


TRỊ HẾT UNG THƯ BẰNG
PHÓNG SINH & SÁM HỐI

Bác Vũ Thị Phượng sinh năm 1952, hiện sống tại 240/41/10/14 Nguyễn Hữu Cảnh, thành phố Vũng Tàu. Năm 2016, bác thấy trong người rất mệt và có nhiều biểu hiện đau nhói bất thường ở bụng, nên đã lên bệnh viện Chợ Rẫy. Sau khi soi chụp kiểm tra kỹ lưỡng, các bác sĩ kết luận bác đã bị ung thư đại tràng, cần tiến hành điều trị.
Nhưng khi ấy, bác Phượng đã tu học theo Phật Pháp nhiều năm, bác biết rõ căn bệnh này chính là những những quả báo từ những ác nghiệp năm xưa bác đã tạo.
Thời còn nhỏ, để phụ giúp cho cha mẹ, chăm sóc cho các em, bác thường xuyên đi mò cua bắt ốc, bắt tôm cá.v.v… về làm thức ăn cho cả nhà, cứ vậy nhiều năm, thì số lượng cua, ốc, cá, tôm.v.v… bác đã bắt giết số lượng lớn khó mà tính đếm.
Khi đã trưởng thành lập gia đình, một thời gian dài bác làm nghề bán cháo gà. Mỗi ngày trung bình bác giết một con gà để nấu cháo, suốt gần 20 năm, số gà bác giết khoảng tầm 6000 – 7000 con, một con số không hề nhỏ.
Từ khi học Phật Pháp, hiểu về nhân quả, bác biết những sát nghiệp mình đã gây, sớm muộn cũng sẽ trở thành quả báo đau đớn trên thân, chỉ là chưa biết nó sẽ là tai nạn hay bệnh tật như thế nào.
Nên nay phát hiện ra mình bị ung thư, bác không cảm thấy bất ngờ gì. Và hơn thế nữa, bác cũng biết không có phương thuốc nào có thể chữa lành bệnh của mình tốt hơn những pháp môn của Phật dạy. Vì bệnh này vốn là do nhân quả nghiệp báo mà ra, nên phải dùng chính nhân quả để trị, đó mới là trị tận gốc, còn chữa bằng thuốc men, phẫu thuật theo y học cũng chỉ là chữa trên ngọn mà thôi.
Chính vì vậy, bác cầm hồ sơ bệnh án rồi trở về nhà tự chữa theo cách của mình, chứ không ở lại bệnh viện chữa theo y học hiện đại. Cũng là vì bác biết căn bệnh ung thư này, có thể nói không có thuốc trị, bệnh nhân hóa trị, xạ trị, phẫu thuật, thuốc men…. Vô cùng tốn kém, song chỉ là duy trì mạng sống trong đau đớn, cuối cùng đa số đều vẫn chết mà thôi.
Trở về nhà, bác có bao nhiêu tiền đều đem đi mua các con vật để phóng sinh. Xưa kia bác sát sinh, mà nay thành bệnh, vậy nên muốn khỏi bệnh thì cần làm ngược lại, đó là phải phóng sinh.
Gần nhà bác, chiều chiều người ta thường bán sam nướng. Những con sam còn sống nguyên bị người bán cắt viền mai, để lộ ra bụng trứng phải có đến hàng vạn trứng sam đầy ắp trong đó, rồi đem đặt lên lò và nướng. Những con sam tội nghiệp, cùng ngàn vạn trứng sam cứ thế bị thiêu đốt, chết dần trong đau đớn, mùi sam nướng két lẹt cả một khu vực.
Bác thấy vậy, nên bác chọn phóng sinh sam, mua những con sam đang chờ lên giàn hỏa thiêu đó thả ra biển, số lượng nhiều lần cộng lại chắc cũng một vài tạ. Nếu tính cả số lượng trứng sam, mỗi trứng khi sinh ra trở thành một sinh mạng, thì bác phóng sinh phải lên đến hàng triệu triệu sinh mạng. Ngoài ra bác còn mua lươn, ốc thả ra hồ nước ngọt. Cứ thế bác dốc tâm, dốc sức phóng sinh bằng tất cả khả năng mình có, không có suy nghĩ đến chuyện bao nhiêu là đủ, bao nhiêu thì dừng.
Trước khi thả, bác đều mời ban hộ niệm đến làm nghi thức phóng sinh, quy y, khai thị, tụng kinh, niệm Phật cầu cho chúng mau thoát kiếp súc sinh, mau vãng sinh Tịnh Độ rồi mới thả.
Hàng ngày rảnh rỗi bác vẫn không ngừng sám hối các nghiệp chướng mình đã gây ra, nghiệp kiếp này và cả những nghiệp kiếp xưa, cứ thế kiên trì không mỏi mệt, đồng thời liên tục niệm Phật, đọc Chú Đại Bi, được bao nhiêu công đức thì hồi hướng cho các oan gia trái chủ.
Khoảng trên dưới một tháng thực hiện như thế, bác thấy mình khỏe dần lên, tại vị trí bị ung thư dưới bụng không còn thấy cồn cào, đau đớn nữa, cơ thể thấy nhẹ nhàng trở lại. Thấy vậy, niềm tin của bác vào Phật Pháp càng mạnh mẽ hơn, bác càng tinh tấn niệm Phật, phóng sinh nhiều hơn. Như thế bệnh lại càng mau lành hơn.
Chỉ vài tháng sau, bác đã thấy mình khỏe mạnh như người bình thường, có thể tiếp tục cùng ban hộ niệm đi niệm Phật cho những người khác mỗi ngày. Mỗi một ca hộ niệm như vậy kéo dài khoảng một tiếng đồng hồ, với người bình thường đã thấy rất mệt, vậy mà một ngày bác có thể tham dự nhiều ca liên tục không có vấn đề gì.Thật là vi diệu.
Cho đến thời điểm này, năm 2019, là 3 năm sau đó, bác vẫn rất khỏe mạnh, khí sắc hồng hào, giọng nói sang sảng, ngoại trừ thỉnh thoảng cảm mạo sơ sơ, thì không có bệnh tật gì đáng kể.
Bác vẫn đi hộ niệm cho mọi người với một tinh thần hăng say, nhiệt thành. Bác cũng không đi khám lại để xem tế bào ung thư còn không, vì theo bác, thay vì lấy tiền để đi xét nghiệm, thì dùng tiền đó mua vật phóng sinh còn tốt hơn nhiều, sức khỏe bác vẫn rất tốt, tốt hơn nhiều những người cùng ngưỡng 60, 70 tuổi như bác, chẳng phải đó đã là “kết quả xét nghiệm” đáng quan tâm nhất sao ?
Điều đó chứng mình một điều, bác đã đúng. Nếu như khi cầm kết quả xét nghiệm bị ung thư, bác ở lại bệnh viện để hóa trị, xạ trị… thì đến nay, chắc bác đã đi theo những bệnh nhân ung thư cùng khám một đợt với bác.
Một nghiên cứu được thực hiện trong hơn 25 năm của Tiến sĩ Hardin B. Jones, cựu giáo sư vật lý và sinh lý y khoa tại Berkeley, California, nghiên cứu đó kết luận rằng, các phương pháp hóa trị, xạ trị và phẫu thuật không những không hiệu quả và không thể kéo dài tuổi thọ bệnh nhân, mà nhiều trường hợp, bệnh nhân ung thư được hóa trị còn qua đời sớm hơn nhiều so với những người không đồng ý điều trị. Bệnh nhân được hóa trị cũng trải qua cái chết, nhưng đau đớn hơn nhiều.
Tiến sĩ Jones cho biết trên tạp chí của Viện Hàn lâm Khoa học New York: “Những người từ chối điều trị sống được trung bình 12 năm rưỡi, lâu hơn so với những người đang được hóa trị”.
Khi hóa trị, các tế bào khỏe mạnh bị giết chết sớm hơn các tế bào ung thư, khiến cơ thể suy yếu và mất khả năng phòng chống bệnh tật. Cộng với tác dụng phụ của các độc tố hóa trị, cơ thể sẽ dần mất đi hệ thống miễn dịch có tác dụng tự chữa lành và níu kéo sự sống.
Năm 1969, ông đã trình bày nghiên cứu của mình tại Hội thảo Tác giả Khoa học của Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ, và những phát hiện khó tin của ông vẫn còn để lại dư chấn trong giới điều trị ung thư cho đến nay.
Jones chia sẻ với MIDNIGHT: “Không phải ung thư giết chết bệnh nhân, mà chính sự suy nhược của hệ thống miễn dịch đã dần dẫn đến cái chết”
Bác Vũ Thị Phượng không biết đến kết quả của cuộc nghiên cứu này, nhưng bằng những hiểu biết của bác về Nhân Quả Nghiệp Báo, về Phật Pháp, bác đã đưa ra một quyết định sáng suốt.
Quyết định ấy không chỉ giúp bác vượt qua căn bệnh ung thư, hồi phục sức khỏe một cách thần kì, mà còn hóa giải được những nghiệp chướng, những oan trái dây dưa nhiều kiếp với những oan gia trái chủ, tăng thêm vô lượng công đức lành, huân tập chủng tử Bồ Đề trong tâm thức, cho chính mình và cho những chúng sinh kia, cho kiếp này và vô lượng kiếp sau, đó mới là điều quan trọng nhất, là mục tiêu mà Phật Pháp muốn đem đến cho thế gian này.


UNG THƯ LƯỠI
– NGUYÊN NHÂN VÀ CÁCH TRỊ

Cô Đàm Thị Hoa, pháp danh Diệu Phước, sinh năm 1970, sống ở quận 12, TP.HCM . Cô sinh ra trong một gia đình miền quê, thuộc tỉnh Thanh Hóa.
Năm 1984 cô theo cha vào Nam sống chung với chú thím. Thấy hoàn cảnh chú thím khó khăn, nên cô bắt đầu xin đi làm ở hãng kem ăn để kiếm tiền phụ giúp thêm gia đình. Làm việc được hai năm, cô thấy lương quá ít, nên chuyển sang cắt cổ gà cho nhà hàng bán Hambuger. Sau ba năm nhà hàng phá sản, cô lại chuyển sang phụ bếp tại các nơi khác, công việc vẫn là cắt cổ gà.
Ngày tháng trôi qua, cô vẫn sống bình yên như vậy, cho đến khi cô lập gia đình và sinh em bé. Chồng cô làm việc ở xa thỉnh thoảng mới về nhà, một mình cô vừa đi làm, vừa nuôi con nhỏ. Nhưng vì em bé ốm yếu, bệnh tật liên miên, và cô cũng phát bệnh liên tục, nên cô đành phải bỏ việc phụ bếp. Cô ở nhà, nhận vài đứa trẻ chăm sóc để có tiền chi phí hàng ngày, vừa tiện lo cho con.
Năm 2007, lưỡi cô bắt đầu lở bên phải. Cô đã đi khắp các bệnh viện như Tai Mũi Họng, Da Liễu, Thống Nhất, Hòa Hảo, Hoàn Mỹ v.v… Nhưng các bác sĩ đều bảo, lưỡi cô bị viêm nóng và mọc nấm, chỉ cho thuốc uống. Cô uống suốt mấy tháng vẫn không hết bệnh.
Năm 2008, lưỡi cô đã bị thủng một lỗ lớn bằng đầu ngón tay. Cô thường khóc vì rất đau nhức, ăn cơm không được, chỉ ăn cháo và ngày nào cũng phải ghé bác sĩ gần nhà để xin chích thuốc giảm đau. Cô hoàn toàn không biết bịnh này là do nghiệp sát sinh trước đây chiêu cảm. Sau đó, cô đến bệnh viện Da Liễu tái khám. Bác sĩ bảo chữa không khỏi, nên chuyển sang bệnh viện Ung Bướu. Sang bệnh viện này, cô bị cắt một ít ở lưỡi để sinh thiết. Sau một tuần có kết quả, bác sĩ không giấu mà báo thẳng cho biết cô đã bị ung thư lưỡi nên phải nhập viện mổ gấp. Vừa nghe xong, cô bủn rủn tay chân, giống như người mất hồn; cô đi lang thang mãi về đến nhà, cô chỉ biết khóc và thở than với người thân.
Đến tháng 3 năm 2009, cô bị mổ nguyên đường vòng ngang cổ, giống như cô từng cắt cổ gà, lưỡi cũng bị cắt một nửa, hành cô đau đớn quằn quại; lại không nói được, không ăn được, thức ăn loãng xay nhuyễn lỏng mà phải đưa ống dẫn vào đường mũi, đau đớn vô cùng.
Cô lâm vào tình cảnh đúng như trong kinh nói, sống không được mà chết cũng không xong. Mổ hơn một tuần thì bác sĩ điều trị yêu cầu cô phải nhổ năm cái răng cấm mới tiến hành xạ trị ung thư. Cơn đau này chưa dứt thì cơn đau khác lại đến, sức khỏe suy yếu, cô phải chịu nỗi đau không thể nào diễn tả được, miệng lúc nào cũng đầy máu, đêm không ngủ được. Bệnh tật ập đến khiến cô tuyệt vọng không còn tha thiết sống, nhưng phải cố vì đứa con nhỏ.
Sau khi nhổ răng xong được hai tuần thì cô đi xạ trị. Xạ đến tia thứ mười lăm thì mặt cô đen thui giống như da con gà ác, miệng và cổ cứng ngắc, không ăn, không nói được, cô quyết định bỏ cuộc.
Lúc cô lâm vào tình cảnh đau đớn thể xác cần người động viên, an ủi thì chồng cô lặng lẽ chạy theo bóng hồng khác. Lần này, chồng chất lên đau đớn thể xác là nỗi đau tinh thần, cô chỉ biết ôm con mà khóc.
Ba tháng cô ăn cháo liên tục, có uống chút sữa nào cũng ói ra, cô nằm thiêm thiếp một chỗ. Cô phải dùng thuốc ngủ nhiều lần, vẫn không thể ngủ được, thức trắng suốt ngày đêm, bị suy nhược thần kinh.
Cũng may, cô còn một chút duyên lành, bà Phật tử gần nhà biết chuyện của cô. Bà đến động viên, khích lệ cô ăn chay, niệm Phật. Ban đầu cô không nghe, bà vẫn kiên nhẫn khuyên bảo, mang các loại đĩa giảng về Phật pháp, đĩa “Niệm Phật chuyển hóa tế bào ung thư” tặng cho cô và muốn dẫn cô đi chùa, cô vẫn không chịu đi.
Một hôm ở chùa gần bên nhà, có mở khóa tu một ngày, bà dìu cô đi. Cô vào nghe quý Thầy giảng kinh, niệm Phật, cũng không hiểu nhiều. Cứ nhiều lần đi như vậy, dần dần cô được bà hướng dẫn quy y Tam bảo. Nhờ đó cô mới biết rõ quả báo, mình mắc bệnh là do sát sinh, vì cắt cổ gà quá nhiều, khiến cô sợ hãi vô cùng. Bà tiếp tục hướng dẫn cô thỉnh Phật về nhà, hàng ngày tụng kinh, niệm Phật, lạy sám hối.
Từ đó, ngày nào cô cũng đến trước Bồ-tát Quán Thế Âm chí thành sám hối, phát nguyện ăn chay, niệm Phật, không dám sát sinh. Tâm cô bắt đầu chuyển biến tốt, không còn nghĩ đến chuyện tự tử, mà biết chấp nhận trả nghiệp, đi phóng sinh chung với các Phật tử ở chùa Hoằng pháp, khuyên người phóng sinh v.v…
Ban đầu, cô ăn chay kỳ, dần dần về sau cô ăn chay trường. Từ khi cô phát tâm sám hối, ăn chay, tụng kinh, niệm Phật thì sức khỏe cô ngày càng tiến triển tốt. Cô tăng lên được mười mấy ký và bệnh cô từ từ thuyên giảm, cô không còn nghĩ đến bệnh tật và người chồng bội bạc nữa. Cô dạy cho con không được sát sinh, ngay cả con kiến cũng thương nó mà không nỡ giết, bởi vì trải nghiệm từ bản thân mình mà cô sợ hãi.
Đến tháng 9 năm 2011, cô khi đi xét nghiệm máu ở bệnh viện thì bác sĩ báo sức khỏe cô hoàn toàn bình phục và không còn một chút tế bào ung thư. Cô cảm động mừng rỡ khóc nức nở. Nhờ cô chí thành sám hối mà được cảm ứng đến Bồ-tát Quán Thế Âm. Thật đúng như trong kinh dạy:
Tội từ tâm khởi đem tâm sám
Tâm được tịnh rồi tội liền tiêu
Tội tiêu tâm tịnh thảy đều không
Thế mới thật là chân sám hối.
Phật pháp đã cứu cuộc đời cô như thế. Phật pháp thật sự không thể nghĩ bàn. Hiện nay cô trở thành một Phật tử tin theo Phật pháp tuyệt đối.
Con người sinh ra ở cõi đời này ai cũng phải làm việc để mà tồn tại, nhưng phần đông hàng phàm phu chúng ta đều tạo nghiệp ác. Có người vì chén cơm manh áo mà tạo nghiệp nói dối; có người vì cơm áo gạo tiền bức bách mà tạo nghiệp sát sinh v.v… khi nhân duyên chín muồi thì quả báo đến chúng ta phải nhận lãnh.
Vì thế trong kinh Đức Phật thường nói: “Bồ-tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả”. Câu chuyện của Phật tử Diệu Phước trả quả báo ngay đời hiện tạido cô tạo nghiệp sát sinh, là bài học quý giá giúp chúng ta cảnh tỉnh chính mình.
(Diệu Âm Lệ Hiếu kính ghi lại từ “Phật pháp nhiệm mầu” kỳ 27 tháng 4/2014)


THOÁT CHẾT NHỜ CÂU NIỆM PHẬT

Nguyễn Ngọc Mỹ Hạnh (sinh năm 2002), cha của cháu là anh Bùi Ngọc Châu và mẹ là chị Nguyễn Thị Hương (bé lấy họ mẹ, tên lót của cha) cư ngụ tại phường 11, Quận Bình Thạnh, TP.HCM.
Như mọi ngày bình thường cháu Hạnh vẫn mạnh khỏe vui chơi, nhưng hôm đó vào ngày 8/9/2010 khoảng gần 11 giờ đêm, đang xem Tivi bỗng nhiên bé bị ngất xỉu. Sau một lúc sơ cứu không hiệu quả gia đình và bà con chòm xóm vội chở đi cấp cứu ở bệnh viện Nhân Dân Gia Định, các bác sĩ đã chẩn đoán là chứng bệnh “Viêm não nhật Bản”.
Một ngày nằm ở phòng cấp cứu thấy không khả quan, các bác sĩ nơi đây cho chuyển bé Hạnh đến bệnh viện Nhi Đồng 2 và được nhập viện vào ngày 09 tháng 9 năm 2010, trong sự thương yêu tận tình chăm sóc của tất cả các Y bác sĩ, hộ lý….
Qua 21 ngày hôn mê sâu, không ăn uống, dù cho nền y học hiện đại cộng với tình thương yêu và dốc hết sức cứu chữa của các Y bác sĩ nơi đây, nhưng sức khỏe của bé Hạnh mỗi ngày mỗi cạn kiệt và suy hô hấp nặng, cuối cùng các bác sĩ đành phải bó tay… rút ống dưỡng khí và cho xuất viện về nhà lo phần… hậu sự.
Hôm đó là ngày 29/10/2010 trước khi gia đình đưa bé về nhà, vị bác sĩ Trưởng khoa nhân từ đã nói với Ba mẹ cháu “Người ta bảo còn nước thì còn tát, nhưng cháu nó đâu còn giọt nước nào nữa mà tát !”
Bác sĩ còn nói : “Nếu tôi mà có phép nhiệm mầu, tôi cũng phải cứu cháu nhưng rất tiếc….. Chỉ có Phật Trời mới cứu được cháu !”.
“Chỉ có Phật Trời mới cứu được cháu!”
Vâng! Vị bác sĩ này đã nói đúng! Cháu Hạnh từ bệnh viện về đến nhà chỉ còn là một bộ xương cách trí, thoi thóp trong hơi thở như một con mèo quặt quẹo sắp sửa ra đi.
Bà con lối xóm người người đến thăm, ai ai cũng xót xa thương cảm (nhìn trong nhà giấy báo che hết bàn thờ, tủ rương, hình ảnh thờ lật úp vào trong, cảnh tang tóc mà ta thường thấy khi nhà có người chết).
Ông ngoại cháu đã mua đất xong, mướn người đào huyệt mộ, và đã lo xong hòm, vải, trà khô ….những thứ cần thiết cho hậu sự.
Nhưng mọi việc đổi thay khi tôi (ở cạnh nhà) nghe cháu Hạnh từ bệnh viện trả về cũng qua thăm. Là một người Phật tử sau khi xem xét cháu Hạnh, tôi nói với ba mẹ cháu: “ Nếu anh chị đồng ý tôi sẽ mời Ban Hộ Niệm đến niệm Phật cho cháu, nếu cháu hết số thì sẽ về với Phật, nếu còn phước thì tai qua nạn khỏi.”
Ba mẹ cháu đồng ý, thế là tôi gọi điện thoại, một lát có một nhóm Phật tử đến cùng tôi thiết lễ bàn Phật. Sau 1 giờ tụng “Kinh Sám Hối” và niệm Phật hồi hướng cầu nguyện cho cháu Hạnh xong ai nấy từ giã trở về nhà, còn lại những người gia đình, bỗng thấy bé chớp mắt và sau đó cháu mở cặp mắt yếu ớt nhìn mọi người.
Ngạc nhiên và mừng rỡ, gia đình cháu Hạnh chạy qua gặp lại tôi mong sao mời được Phật tử tiếp tục đến niệm Phật.
Thế là chỉ mấy cú điện thoại của tôi mà gần cả trăm người đến thay nhau niệm Phật vang trời, niệm suốt mấy ngày mấy đêm. Nào là Đoàn Phật tử Ban trợ niệm Chùa Vạn Đức Thủ Đức, cô Thanh Lý làm trưởng ban; đoàn Phật tử Ban Hộ niệm ở Gò Vấp, bác Huệ Nguyện dẫn đầu. Các Phật tử chùa Hoằng Pháp, Phật tử các chùa ở Bình Thạnh, các chị tiểu thương chợ Gò vấp, Phật tử chùa Như Lai và các Phật tử khắp nơi trong các quận huyện trong Thành phố Hồ Chí Minh, thông tin nhau qua điện thoại, tự túc mang theo lương thực, không quản ngày đêm cùng niệm câu “Nam mô A Di Đà Phật”- những người mà trước giờ gia đình cháu Hạnh chưa hề quen biết!
Khu phố nơi đây mọi ngày bình yên nay bỗng ồn ào hẳn lên, ngày cũng như đêm rất khuya thế mà không biết Phật tử từ đâu ùn ùn kéo đến tay cầm chuỗi, đồng phục áo dài lam từng tốp thay nhau niệm Phật vang trời, bà con lối xóm vui mừng đến thăm cháu Hạnh cũng chắp tay đồng thanh niệm Phật …
Sau một tuần, Bé tỉnh táo lại nhưng đôi lúc co giật làm kinh. Để tiếp tục điều trị cho cháu Hạnh, ngày 04 tháng 11 năm 2010 ba mẹ cháu đến bệnh viện Nhi đồng 2 xin hồ sơ bệnh án về, mục đích là chuyển bé đến khoa Thần Kinh bệnh viện Chợ Rẫy.
Thấy ba mẹ cháu Hạnh vừa đến mọi người ùa ra hỏi han ( ai cũng nghĩ rằng bé Hạnh đã chết ) nhưng khi nghe bé Hạnh đã khỏe, và ăn uống lại rồi, ai nấy thật sự không tin, cứ tưởng đùa !
Mọi người ngỡ ngàng khi nghe ba mẹ cháu Hạnh nói bé đã sống lại rồi.
Điều kỳ diệu nào đã làm cho bé Hạnh từ cõi chết trở về?
Bác sĩ trưởng khoa khi cho cháu Hạnh xuất viện cũng đã có nói “Chỉ có Phật Trời mới cứu được cháu!”
Vâng ! Nhờ Phật Trời cháu Hạnh đã sống lại ngay buổi niệm Phật đầu tiên và tỉnh dần sau những buổi niệm Phật tiếp theo, thật sự cháu Hạnh đã sống lại nhờ câu niệm: “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT” của số đông Phật tử qua mấy ngày đêm.
Khi không còn phương điều trị được nữa, Bệnh viện cho cháu Hạnh xuất viện về nhà là sẽ chết, điều đó tập thể Y, Bác sĩ tại khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 2 và tất cả mọi người không ai chối cãi.
Nhưng tại sao niệm Phật mà cháu Hạnh sống lại?
Việc này giống như chiếc đèn kia ít dầu quá, sắp cạn rồi đèn sẽ tắt. Nhưng nhờ nhiều người thương tình đến, mỗi người tiếp cho một ít dầu, thì đèn sẽ đầy dầu lại và tiếp tục sáng!
Người sống thọ, sống khỏe, sống vui là nhờ cái Phước Nhân đời trước đã tạo. Cháu Hạnh kiếp trước thiếu tu nên thiếu phước, giờ mạng sống đã cạn, nhưng còn chút duyên nào đó đối với Phật Pháp nên được nhiều người đến niệm Phật để tiếp phước, nhờ phước đó mà cháu Hạnh thoát cơn nguy hiểm, mạng sống tăng thêm.
Vậy cho nên chúng ta, ngay từ bây giờ ai nấy cũng nên thành tâm niệm câu “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT” để tăng thêm phước thọ. Nếu đang bệnh tật, ngoài thuốc men điều trị, cũng nên niệm Phật hằng ngày.
Mà cháu Hạnh đây đã trải qua bao nhiêu kiếp trước tạo nghiệp gì đó không lành nên giờ bị chứng bệnh nặng ( nghiệp bệnh ), mạng sống sắp tàn, may nhờ còn chút duyên lành nên gặp số đông Phật tử đến trợ niệm tiếp phước cho ( mà phần đông là Phật tử ở xa không ai là người quen với gia đình mới lạ chứ, thậm chí tôi cầm máy gọi cũng đâu có quen nhiều người, chỉ biết số điện thoại đó là của Ban hộ niệm thôi).
Đã qua rồi cơn nguy hiểm, gia đình tiếp tục xin nhập viện Nhi Đồng 1, gần một tháng nằm viện và được trở về nhà, tuy thần kinh còn co giật liên tục, nhưng gia đình mong tôi ghé châm cứu mỗi ngày.
Cháu Hạnh giờ hoàn toàn tỉnh táo, hết co giật, nói được, ăn ngủ tốt, đùa giỡn suốt ngày. Tuy nhiên vẫn phải thường xuyên đến Bệnh viện tái khám theo dõi.
Hôm nay, ngoài sự tri ơn Phật đã cứu sống con mình, ba mẹ cháu Hạnh tỏ lời biết ơn đến với quý Phật tử trong các Ban Hộ Niệm không quản ngày đêm mưa gió đến niệm Phật cầu an cho cháu.
Cám ơn các Y -bác sĩ đã tận tâm chăm sóc cháu Hạnh thời gian qua. Riêng ba cháu Hạnh, lúc mọi người đang chuẩn bị lo hậu sự cho cháu, thì ba cháu vì quá thương con gái út, ba cháu có tự đập đầu vào tường và ngất xỉu, anh tự vận để theo con, nhưng mọi người ngăn cản kịp thời.
Giờ đây, đã qua rồi cơn biến cố gia đình và thấy sự nhiệm mầu quá sức tưởng tượng của câu “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT”.
Ba của cháu – anh Châu đã từng vô tù ra tội vì tánh khí hung hăng quậy phá… nên có biệt danh “Châu điên” (dân Sở Thùng ấy mà) nay đã nguyện Quy y, tại gia thờ Phật A Di Đà, bỏ ác làm lành, tập ăn chay, tu học.
Câu niệm “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT” đến nơi đâu sự mầu nhiệm đến đó.
(Lương y Phan Văn Sang – 87 Nguyễn Văn Nghi, P.7, Q. Gò Vấp)


TRỊ HẾT BỆNH LẮC ĐẦU KINH NIÊN TƯỞNG KHÔNG THỂ TRỊ

Bà Trần Thị Ích, sinh năm 1932, sống tại ngã ba Vũng Tàu. Bà sinh 22 người con chết 5 người còn lại 17 người. Do con đông, lại không biết chữ nên bà phải tìm đủ cách mưu sinh nuôi con. Bà mở quán nhậu, cứ đến mùng 5 tháng 5 gọi đám con nít đi bắt dế cơm to về bán cho bà. Sau đó bà lấy tay ngắt đầu từng con dế, ngắt chân rồi ngâm muối nhét đậu phộng vào lăn bột đem chiên để bán cho khách nhậu. Không chỉ có dế, bà còn sát hại rất nhiều con dong, chim, vịt,…lươn thì bà để y nguyên trong thùng, còn đang sống mà bà bê nguyên nồi nước sôi tưới lên mình khiến chúng sinh đau đớn cong mình mẩy. Tất cả chỉ để phục vụ cho chuyện nhậu nhẹt của khách hàng, kiếm tiền nuôi con.
Kết quả ra sao? Bà vẫn nghèo khổ, dù mưu mẹo đủ thứ. Tính tình bà trước đây cộc cằn, hung dữ, ngay cả với con cháu bà cũng vậy, thích ăn thua với người khác. Con cái bà đi làm xa cũng nghèo, nhưng không gởi tiền về cho bà là bà mắng chửi té tát. Chồng chết thì rủa chồng ác nhân, làm cho bà đẻ nhiều rồi chết trước bỏ con cho bà nuôi cực khổ. Đã vậy bà còn thích đồng bóng, bỏ tiền ra vô coi đồng bóng, họ về nhập vô bà nhảy múa lung tung. Bà không tin Phật, không tin nhân quả báo ứng.
Bà mang chứng bệnh lắc cổ kinh niên do quả báo từ nghề nghiệp, đầu lắc liên tục cả ngày lẫn đêm mười mấy năm, thêm chân có tật đi đứng không được rất khó khăn do tai biến sinh nở. Bà mang chứng bệnh này chỉ muốn chết thôi. Tiền không có, chạy chữa đủ bệnh viện vẫn không hết, rồi họ chuyển bà vô bệnh viện tâm thần. Sau cùng về nhà, vẫn cứ lắc đầu không dứt, rất khổ sở bức bách, tâm thì luôn nghĩ muốn tự sát.
Sau này có người hướng dẫn bà lên Tịnh Thất Quan Âm để niệm Phật. Bà không chịu, bà bảo lên đó làm chi, nếu niệm thì ở nhà niệm Phật cũng được. Thế là bà trải chiếu ra ngồi trước hình Quan Âm Bồ Tát bắt đầu niệm Phật. Bà niệm Phật từ 1 giờ sáng đến 10 giờ trưa, “niệm Phật để chết” chứ không phải để hết bệnh.
Sáng hôm sau, con bà đợi hoài không thấy bà mở cửa đi ra, nghĩ chắc bà bệnh rồi té. Điện thoại vào thì bà nghe mà không bắt được điện thoại, ngồi niệm tê cứng toàn thân, không còn cảm giác. Bà cứ “Nam Mô A Di Đà Phật” nhắm mắt, mở mắt niệm. Đến gần 11 giờ thì cử động lại được, đói bụng nấu cháo ăn sau đó lên giường nằm nghỉ nhưng cái miệng vẫn niệm Phật. Bệnh lắc đầu hết lúc nào không biết.
Đến bệnh viện kiểm tra lại nhiều lần,thì đầu không còn lắc nữa, hết bệnh mà hoàn toàn không uống một thang thuốc hay viên thuốc nào. Lạ một điều nữa là kể từ khi hết bệnh nhờ niệm Phật thì bà không còn thèm ăn mặn nữa, thấy thịt bà sợ hãi.
Bây giờ tuy bệnh lắc đầu hết rồi, kể cả cái chân bị tật 41 năm cũng hết luôn nhưng bà vẫn còn sợ bị “lắc đầu” lại. Bà không dám buông lơi tiếng niệm Phật, trở thành tinh tấn niệm khẩn thiết, ngày nào cũng niệm liên tục năm tiếng đồng hồ.

Câu “A Di Đà Phật” đã chuyển hóa thân tâm bà. Thân hết bệnh, tâm chuyển biến trở thành một người mới biết cảm thương, đồng cảm với người khác hơn. Giờ hễ có chút tiền thì bà mua đủ con vật để phóng sinh chuộc lại lỗi lầm. Ngoài bản thân mình có được lợi ích bà còn khuyên người khác niệm Phật. Bà bảo hồi xưa ham ăn lắm, bây giờ càng niệm Phật càng thấy hoan hỷ, không còn muốn ăn nữa, ăn rất ít. Đây nhà Phật gọi là “Thiền duyệt vi thực”, niệm Phật đến pháp hỷ sung mãn, một câu “A Di Đà Phật” hoan hỷ nên không còn thấy đói nữa, mà thân an lạc khỏe mạnh. Bà nói 79 năm rồi toàn đau khổ, đến nay niệm Phật bà mới thấy sự sung sướng nhất trong cuộc đời.
Cho nên Hòa thượng Tịnh Không dạy chúng ta đừng coi thường mấy người hay làm việc ác. Bởi vì khi họ hồi đầu sám hối, công phu niệm Phật của họ sẽ tinh tấn hơn chúng ta rất nhiều lần, cơ hội vãng sinh cũng rất cao. Cũng có khi là Bồ tát nghịch hạnh thị hiện cho chúng ta xem mà thức tỉnh.
Xin hãy thường niệm A Di Đà Phật!
( Diệu Âm Lệ Hiếu kính ghi lại 04/2014.)


NHỜ CÂU NIỆM PHẬT MÀ THOÁT KHỎI TỬ THẦN

( Diệu Âm Phúc Cường)

Đây là một câu chuyện có thật xảy ra vào tháng 6 năm 2014 tại Hải Phòng. Nhờ lòng thành kính, chí tâm niệm A Di Đà Phật cùng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát tha thiết mới có được sức cảm ứng không thể nghĩ bàn, đã giúp hai mẹ con chị Thu khởi tử hồi sinh.

Sư tỉ Ngọc là một Phật tử thuần thành, ngoài công phu hằng ngày còn là một thành viên tinh tấn trong Ban trợ niệm Hải Phòng. Sư tỉ có một người cháu gái tên là Nguyễn Thị Thu sinh năm 1982, nhà ở ngõ 96 Dư Hàng Kênh, Quận Lê Chân, TP. Hải Phòng. Chị Thu cũng là một Phật tử, từ nhỏ đã có tấm lòng nhân hậu, tin sâu Nhân Quả. Chị vẫn thường đến chùa lễ Phật tụng kinh, nhất là kinh Dược Sư.
Vào năm 16 tuổi chị bắt đầu có các biểu hiện: ăn uống nhiều, đi tiểu nhiều, sụt cân, mệt mỏi,.. Sau này đi khám mới phát hiện bản thân còn rất trẻ lại mắc bệnh tiểu đường, đây là sự trở ngại lớn trong đời của Thu.
Sau khi tốt nghiệp THPT, do sức khỏe yếu kém chị không đi học tiếp mà xin làm công nhân giày da. Năm 2006, chị gặp và kết hôn với anh Hải sau một năm tìm hiểu, dù cho hai bên gia đình phản đối vì bệnh tình của chị.
Năm 2007 chị Thu sinh đứa con đầu lòng. Sau khi sinh, sức khỏe chị có suy giảm đáng kể nhưng đời sống gia đình vẫn ổn định. Đến cuối năm 2013, chị mới biết mình vỡ kế hoạch đứa con thứ hai. Là một Phật tử, lại tin vào lý Nhân Quả nên chị Thu càng không nỡ phá thai như những người khác mà cố gắng sinh con ra cho tròn vẹn.
Từ khi mang thai bé, hằng ngày chị đều nghe theo lời dặn của sư tỷ Ngọc đọc kinh Địa Tạng và niệm Phật, lấy công đức chuyển nghiệp cho mình và thai nhi. Sư tỷ Ngọc cũng rất từ bi, hằng ngày đều công phu sớm lạy Phật, niệm “A Di Đà Phật” đem công đức hồi hướng cho hai mẹ con chị Thu. Bản thân chị Thu trong thời gian này cũng hay tham gia tụng kinh, niệm Phật trợ duyên cho một số người bệnh và trợ niệm cho người sắp lâm chung.
Khi thai càng phát triển lớn thì thận chị càng hỏng đi. Đến tuần thứ 28, chị Thu không thể thở được nữa nên tình trạng hết sức nguy kịch. Lúc này người nhà chị đưa đi cấp cứu ở Viện sản Hải Phòng. Tại đây, bác sĩ có chuyên môn kết luận: “Cơ thể chị Thu ngoài bệnh tiểu đường còn có những biến chứng: suy thận, tràn dịch màng phổi, nhịp tim không đều, huyết áp cao,… thai của chị không thể giữ được và phải chuyển chị sang Viện Tiệp Hải Phòng tiếp tục cấp cứu”.
Hành trình gian nan của gia đình lại tiếp tục đưa hai mẹ con chị đến bệnh viện Tiệp. Nơi đây bác sĩ cũng kết luận đứa bé không thể giữ được, thậm chí nếu phẫu thuật cứu người mẹ cũng chỉ có xác suất 20% thành công. Hi vọng sống mong manh như ngàn cân treo sợi tóc.
Ngày lên bàn mổ, không khí quá nặng nề, một lúc hai sinh mạng trong gia đình, sư tỷ Ngọc còn liên hệ trước với hơn 20 vị liên hữu trong Ban Hộ Niệm nếu như có tình huống xấu xảy đến, mọi người đều phát tâm đến trợ duyên cho hai mẹ con.
Bên ngoài phòng mổ, cả gia đình sư tỷ Ngọc đều đứng ngoài thành kính nhất tâm niệm Thánh hiệu A Di Đà Phật, khẩn thiết xin chư Phật, chư Bồ Tát từ bi gia trì, đến mức các bác sĩ bệnh viện cũng lấy làm lạ đối với trường hợp hi hữu này. Bệnh nhân còn chưa chết, cớ sao người thân lại niệm Phật?
Ngay trong phòng mổ, chị Thu nhớ lời sư tỷ Ngọc dặn dò, dùng hết tâm lực, tha thiết niệm Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn. Cho đến khi gây mê, dù tay chân không cử động được nhưng trong tiềm thức chị vẫn vang danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát không ngừng, không ngừng mãi đến khi thuốc mê dần hết tác dụng, có thể nói lúc ấy tiếng niệm gần như “Nhất tâm bất loạn”. Dường như chỉ trong phút giây cận kề sinh tử, chúng ta mới có cái tâm chí thành chí thiết này mà nương tựa Phật lực, cầu Phật gia bị.
Cửa phòng mổ vừa mở, bác sĩ từ trong bước ra thắc mắc với gia đình, bệnh nhân này đã tiêm thuốc mê mà sao miệng vẫn còn lẩm bẩm cái gì đó không dứt vậy? Gia đình và sư tỷ Ngọc thành thật trả lời, chị Thu đang niệm Phật xin gia trì. Các bác sĩ nghe xong ai nấy đều vui mừng hoan hỉ; có người nói, ngoài này niệm Phật, bên trong người mẹ cũng niệm, thảo nào cháu bé được sinh ra có 8 lạng (800 gram) mà lại khóc rất to, kỳ tích trong kỳ tích.
Từ một thai nhi chắc chắn không giữ được mạng cho đến người mẹ tỷ lệ sống còn cũng chỉ 20%, vậy mà nhờ sự nỗ lực tận tâm của các Bác sĩ, tiếng niệm Thánh hiệu Phật nhất tâm tha thiết của cả gia đình và chính bản thân người mẹ mà cuối cùng mẹ tròn con vuông, cả hai mạng người khởi tử hồi sinh! Sau đó, chị Thu được chuyển sang phòng hồi sức, còn cháu bé thì chuyển lên phòng cấp cứu đặc biệt tại bệnh viện Nhi Đức.
Trong phòng mổ này, 10 đứa bé thì 9 bé đều không cứu được mà trả về cho cha mẹ. Người chú ruột của đứa bé là một thanh niên trẻ không tin Phật Pháp, nhưng nhìn cảnh cứ một vài tiếng lại có một đứa trẻ chết, lại nhìn sang cháu gái đáng thương mặt đang đen xuống cuối cùng cũng khai duyên niệm niệm không dứt: “A Di Đà Phật ! A Di Đà Phật ! A Di Đà Phật !…” cho cháu mình.
Sau 4 ngày chăm sóc, cháu khỏe mạnh trở lại gia đình. Người chú cũng nhờ vị Bồ Tát nhỏ này mà lần đầu tiên cảm nhận được hai chữ “nhiệm mầu” của Phật Pháp. Cho đến nay là tháng 9 năm 2014, cháu đã được 3 tháng tuổi, nặng được gần 3kg nhưng rất khỏe mạnh, hằng ngày đều được mẹ cho nghe đĩa giảng của thầy Thích Giác Nhàn, nghe niệm “A Di Đà Phật ! A Di Đà Phật ! A Di Đà Phật !…”không ngơi nghỉ.
Kỳ lạ là mỗi lần nghe người khác niệm Phật thì đều nhoẻn miệng cười, lại còn được người thân như ông bà, cha mẹ hằng ngày công phu lễ Phật, niệm Phật hồi hướng công đức cho nữa.Gia đình đặt tên cháu là Tâm An, nghĩa là tâm luôn bình an.
Trong kinh có dạy rằng: “Chí tâm niệm một câu A Di Đà Phật có thể tiêu trừ 80 ức kiếp sinh tử trọng tội”. Chỉ cần xem người niệm Phật có phải là “chí tâm” niệm hay không, nếu như chí tâm, niệm Phật ắt sẽ có cảm ứng.
Trường hợp vi diệu của gia đình sư tỷ Ngọc cũng vậy, chị Thu niệm Quán Âm Bồ Tát đến tâm tâm không dứt. Dù cho có thuốc mê làm mê man, tinh thần vẫn bám chắc lấy Thánh hiệu này đến “bất loạn”. Cả gia đình ngoài phòng mổ cũng niệm niệm thành kính, niệm niệm tha thiết ắt sẽ cảm được ánh sáng từ bi luôn hiện hữu của chư Phật, chư Bồ Tát.
Qua câu chuyện cảm ứng Phật pháp nhiệm mầu mắt thấy tai nghe này, nguyện cho những người chưa tin Phật, niệm Phật, sớm biết tin Phật niệm Phật. Nguyện cho những người đã tin Phật niệm Phật rồi sẽ càng gắng nỗ lực hơn, tinh tấn hơn gấp bội; những ai thấy nghe đều có được lợi ích.

Việc chia sẻ câu chuyện trên nếu có chút công đức xin hồi hướng cho cả gia đình của bé Tâm An hết thảy tội chướng tiêu trừ, căn lành tăng trưởng, phát Bồ đề tâm kiên cố, niệm Phật chuyên cần quyết lòng một đời này vãng sinh Tây Phương Cực Lạc Thế Giới.
* Khi bạn gieo Nhân đi hộ niệm lâm chung cho người khác, thì đến khi bạn hữu sự, Quả báo tự nhiên có người đến giúp bạn, trợ niệm cho bạn. Nhân Quả không hề sai dịch mảy may. Mong bạn ghi nhớ kỹ điều này để tăng trưởng tín tâm, tích đức tu thiện ăn chay, phóng sinh, niệm Phật và phát tâm hộ niệm giúp đỡ người khác lúc lâm chung, công đức này vô lượng.
Xin hãy thường niệm A Di Đà Phật.

(Tác giả: Diệu Âm Phúc Cường. Biên tập: Diệu Âm Lệ Hiếu.)


ĐẾN BÁC SĨ CŨNG PHẢI NHỜ PHẬT PHÁP MỚI LÀNH BỆNH

Tôi tên Phạm Thị Minh Yến, pháp danh Từ Tâm Đạo, hiện cư ngụ tại địa chỉ 104 lô P Cư xá Thanh Đa, Phường 27, Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 1975, lúc đó tôi được 25 tuổi. Khi mang thai đứa con thứ hai, tôi đi khám thai định kỳ, bác sĩ cho biết là tôi hở van tim khá nặng, chỉ được phép sinh cháu này xong thì phải đoạn sản… Từ đó, tôi biết tôi mang bệnh tim nặng và cứ sống chung hòa bình với bệnh của mình. Nếu khỏe thì tôi làm việc; nếu mệt, tôi nghỉ và cứ uống thuốc đều đặn, hết năm này đến năm khác.
Cho đến năm 2010, tôi cảm thấy bệnh trở nặng, tim nhói đau như châm chích từng cơn, có lúc nóng ran và choáng váng, thường ngất đi rồi tỉnh lại, áp huyết tuột thường xuyên, sinh hoạt không còn bình thường như trước, yếu ớt chậm chạp. Ngồi rửa chén xong, đứng dậy tối đen như mực, tay chân lỏng lẻo, đi nhiều chân đau nhức, gối mỏi nhừ !
Vào ngày 14/6/2010, tôi buộc lòng phải đi siêu âm tim, và đo Điện tâm đồ tại Bệnh viện Bình Thạnh . Kết luận như sau :
– ĐÓNG VÔI HAI LÁ VAN , DÀY DÍNH MÉP VAN, HẸP MỨC ĐỘ NHẸ .
– HỞ VAN 2 LÁ 2/4 – HỞ VAN ĐỘNG MẠCH CHỦ 1,5/ 4, HỞ VAN 3 LÁ < 1/4 . – THIẾU MÁU CƠ TIM CỤC BỘ . Bác sĩ chuyên khoa : Lê thị Kim Hồng .

Nhìn vào bệnh án : ” đóng vôi hai lá van “, tôi nghĩ thường thì vôi đóng vào cột sống cổ, cột sống lưng , hay khớp gối, khớp tay …, tại sao lại đóng vào hai lá van? Thảo nào tôi chống chọi, chiến đấu với cơn đau thật là vất vả, kinh hoàng không thể tà được ! Theo tôi được biết, đóng vôi hai lá van làm cho cơ tim cứng, hoạt động khó, chức năng của van bị giảm dần những khi huyết lưu thông lên não bộ. Trong trường hợp van cố gắng đàn hồi bị cứng …thì có thể đưa đến đột tử bất cứ lúc nào! Thật là nghiệt ngã đến buồn cười … vì tôi lại là bác sĩ !

Trong thời gian này tôi còn học ngày học đêm để còn thi Lương Y. Có những người bạn thân thiết trong nghề, vừa lấy làm lạ về việc “đóng vôi”, vừa tỏ ra buồn và lo ngại cho tôi về hiện tượng kỳ dị nầy. Bác sĩ chuyên khoa tim ngạc nhiên không kém và cũng cho tôi biết là trường hợp nầy hiếm hoi với bệnh tim, mà họ đảm nhiệm mấy chục năm nay. Ngày 3/4/2011, tôi ráng cho hết buổi học chứng chỉ Nội khoa. Đúng 10 giờ trưa tan trường, cơn đau xé ngực và đầu óc lơ mơ tay chân bủn rủn, tôi giục xe ôm đi thẳng vào cấp cứu bệnh viện Bình Thạnh, và… không còn biết gì nữa.

Đến hai hôm sau tôi mới tỉnh lại và điều trị ở đây 15 ngày. Tôi lại được siêu âm và đo Điện tâm đồ ngày 4/5/2011: – CHỨC NĂNG TÂM THU THẤT TRÁI BẢO TỒN , EF 50%. – VÔI HÓA LÁ TRƯỚC VAN HAI LÁ, HẸP VAN 2 LÁ, MVA= 1,9 cm2 – HỞ VAN 2 LÁ 1, 5 /4 – HỞ VAN ĐỘNG MẠCH CHỦ 1,5 /4 . Bác sĩ chuyên khoa : Lê Quang Thạnh . Lần nầy tôi mê man ở phòng săn sóc đặc biệt ba ngày hai đêm, tưởng như là không tỉnh lại nữa. Tôi mơ thấy hồn mình bay lên trên nóc nhà bệnh viện, thấy xác mình nằm bất động tái xanh không còn chút máu. Tôi cứ bay bay lơ lửng và nhìn cảnh các bệnh nhân la hét rên rỉ giống như là cảnh của địa ngục mà tôi đã đọc qua. Và sau đó thì thấy có một bác sĩ và hai y tá vào phòng tôi, họ reo lên mừng rỡ :”Tỉnh rồi !Tỉnh rồi ! …

Tôi giật mình, giấc mơ chấm dứt! Khắp người tôi, từ ngực cho đến chân toàn là những dây thiết bị điện tâm đồ chằng chịt, khắp người đau nhức. Cơn mệt rồi cũng qua, cơn nhức nhối rồi cũng giảm nhờ thấm thuốc giảm đau. Tôi chợt nhớ năm 2010, tôi có hỏi một Bác sĩ về hiện tượng “vôi hóa”, bác sĩ bảo đây là một hiện tượng lạ, hiếm thấy ở vùng tim.

Tôi hỏi có mổ được không ? Câu trả lời là không giải phẫu được, trừ khi ra nước ngoài thay tim do một Mạnh Thường Quân nào đó hiến tim, nhưng hy vọng sống chỉ 4% thôi, vì bệnh được phát hiện ở thời kỳ thứ ba rồi. Vào bệnh viện lần này, tôi có cảm giác của người sắp từ giã cõi đời: Khó thở nên phải trợ oxy, thường lấy hơi lên như ngáp cá, sưng khớp gối, đi lại khó khăn phải chống gậy, không ngủ được, nhắm mắt mà thức thâu đêm, suốt sáng, không ăn được vì miệng đắng chát, người gầy như que tăm, mặt mày xanh mướt. Tôi nghĩ, chắc là không qua khỏi rồi. Vô thường tới rồi! Thôi thì chuẩn bị cho ngày cuối thì tốt hơn, và lo cho phần hồn là chính. Khi xưa, đã nhiều năm, tôi là Trưởng Đoàn dẫn chúng đi tụng kinh Pháp Hoa, đi tụng Chú Đại Bi ở vùng sâu, vùng xa. Tôi tụng kinh Pháp Hoa và thuộc lòng chú Đại Bi rất hay.

Nhưng bây giờ thì ngày thi Lương y gần kề, sức đã yếu rồi, làm sao hoàn tất quyển kinh thật lớn, trì tụng bài chú dài như vậy. Tôi cũng là đệ tử của thầy Chân Quang, nên cũng biết chút chút Thiền. Nhưng hiện tai, đau nhức hai đầu gối quá không thể ngồi kiết già mà Thiền được. Cuối cùng, tôi thấy niệm có sáu chữ NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT ngắn gọn, dễ dàng nhất, đi, đứng, nằm, ngồi gì cũng được. Vả lại, bệnh tôi đe dọa đột quỵ bất cứ lúc nào. Tôi phải gấp lên, thật mau niệm Phật, may ra còn được 10 tiếng trước khi chết, để được nương theo ánh hào quang của Đức A Di Đà !

Tôi bắt đầu niệm Phật, không phải cầu Phật cho sống mà để cho đừng bị hành xác. Tôi chỉ mong một cái chết bình an trong tiếng niệm Phật mà thôi. Tôi sẵn sàng đón nhận cái chết mà không hề sợ. Thật ra, người như tôi, có rất nhiều số không nên chẳng có gì để lưu luyến, tiếc thương cõi đời ô trọc nầy. Không chồng dù có chồng, không con dù có con, không nhà dù có nhà, không tiền dù có nhiều khả năng để kiếm ra tiền ! Quanh năm suốt tháng, tôi cứ đi chữa bệnh từ thiện ở chùa và các điểm từ thiện. Bệnh nhân, gọi là “chữa …chùa “, nên khi phục hồi sức khỏe chỉ cám ơn hay thơm thảo lắm thì cho vài chục bạc không đủ đi xe ôm, thì lấy đâu ra tiền những lúc thắt ngặt như thế nầy để chữa bệnh. Gia đình tôi, không ai quan tâm đến tôi , có lẽ họ đã quen với bệnh tim của tôi rồi. Cái chết mà đến mau với tôi cũng như giải phóng kiếp đọa đày sớm, điều đáng mừng hơn đáng buồn. Tôi có thể thoát ly được cái xác bệnh tật nặng nề, cái tâm hồn u uất nầy thật là có phước! Cay đắng quá phải không bạn ? Khi xuất viện, tôi vẫn sinh hoạt bình thường, đi học, đi chữa bệnh từ thiện, tư vấn miễn phí cho bệnh nhân, viết mail,…và trong thời khóa biểu hằng ngày tôi thêm niệm NAM MÔ A MI ĐÀ PHẬT.

Thời gian cũng không cố định, lúc nào rảnh tôi cũng niệm với lòng thành và tin tưởng, siêng năng, niệm hoài không ngừng nghỉ … Không hiểu vì tôi gặp may mắn hay gặp thầy, gặp thuốc mà tình trạng bệnh tật có cải thiện thấy rõ, bạn ạ! Tôi thấy có giảm những triệu chứng mệt mỏi, ngất xỉu khoảng 60% ! Thuốc thì tôi chỉ uống thuốc theo bảo hiểm y tế, có gì uống đó trong nửa tháng. Toa thuốc đặc trị của Bác sĩ cho tôi thì…đắt quá, cả bạc triệu. Tôi cũng đón nhận toa thuốc vui vẻ, nhưng để chơi thôi, chứ cơm ngày hai bữa chưa chắc đã đủ, tiền có đâu mà mua thuốc ! Với lại, tôi biết mình khó cứu được, suy tim kỳ 3 rồi, trước sau gì cũng ra đi, nên tôi không bận tâm, và cũng không tái khám, uống thuốc cũng vậy thôi. Tôi là Phật tử, tôi chỉ muốn niệm Phật lo cho phần hồn thôi ! Còn xác này để hiến cho Y học, không cần thiết để chạy chữa. Tính đến nay tôi đã mang bệnh tim gần 40 năm. Vì mặc cảm bệnh nan y , nên tôi thường giấu bệnh mình, chỉ khi nào bị mệt xỉu thì người ta đoán biết ra mà thôi. Mười năm qua, tôi là thầy thuốc, nếu để cho người ta biết mình đau tim thì việc chữa trị cho bệnh nhân, người ta không tin tưởng mình thì sao? Cho nên, tôi càng giữ kín hơn nữa. Bây giờ, có nhiều người biết, chắc là đã đến lúc tôi phải từ giã mọi người rồi. Thường thì lãnh thuốc Bảo hiểm Y tế chỉ uống lâu nhất là 15 ngày, hết thuốc. Sau 15 ngày, tôi không tái khám nữa , vì ” chuẩn bị cho ngày cuối ” rồi, uống làm chi nữa, để dành phần thuốc cho người khác, có phước hơn. Tôi cứ niệm Phật đều đặn, không dám bê trễ ngày nào, giống như người làm chấm công , giống như học trò đi học, không hề bỏ sót một bài học nào. Càng ngày tôi cảm thấy sức khỏe càng tăng, tôi không bị mệt nhiều như trước. Tôi hoàn toàn đổi tướng, trẻ ra, tóc đen, thấy khỏe và hăng hái làm việc nhiều, chân tôi không còn đau khớp nữa. Tôi tăng cân và hồng hào, tươi tắn, học giỏi nên đã thi đậu Lương Y Đa khoa rồi. Thỉnh thoảng tôi ngồi niệm Phật và thấy Đức Phật A Di Đà hiện ra, mặc áo đỏ giống như những tượng ở chùa mà tôi thường đắp y ! Tôi có kể cho An, là người bạn học chung với tôi ở Viện Đại học Hùng Vương. Tôi nghĩ, có lẽ Phật A Di Đà đã chứng minh cho lòng thành của tôi rồi. Mừng quá! Tôi rất phấn khởi, và ngày 24/11/2011, tôi đi siêu âm tim và đo điện tâm đồ để xem sao, kết luận : – DÃN BUỒNG NHĨ TRÁI . – GIẢM ĐỘNG NHẸ VÁCH LIÊN PHÁT . – CHỨC NĂNG TÂM THU THẤT TRÁI BẢO TỒN , EF= 57%. ( E/ A >1).
– HỞ VAN 2 LÁ 2/4, HẸP VAN 2 LÁ MÚC ĐỘ VỪA MVA/PHT=1.8 cm2.
– HỞ VAN ĐỘNG MẠCH CHÚ 1,5/4, HỞ VAN 3 LÁ 15,4, HỞ VAN ĐỘNG MẠCH PHỔI 1/4
Bác sĩ chuyên khoa : Nguyễn thị Mỹ Dung .
Tiếp theo mấy tuần lễ sau:
Ngày 15/12 /2011, tôi đi siêu âm và đo điện tâm đồ , kết luận :
– DÃN BUỒNG NHĨ TRÁI .
– CHỨC NĂNG TÂM THU THẤT TRÁI BẢO TỒN , EF=55%.
– HỞ VAN 2 LÁ 2.5/4 .HỞ VAN ĐỘNG MẠCH CHỦ 1,5/4 .HẸP VAN 2 LÁ MỨC ĐỘ TRUNG BÌNH MVA /PHT= 1,4 cm2 .
Bác sĩ chuyên khoa : Lê Quang Thạnh.
Kính thưa quý vị.
Từ ngày 4/5 đến ngày 15/12/2011, đếm được 7 tháng 11 ngày, tôi niệm NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT mà đã tan hết vôi hóa van tim, cũng có nghĩa là bệnh tim hơn 40 năm trời nay không chữa trị được, đã có thể lành mạnh như xưa … Đây là một sự mầu nhiệm không thể nghĩ bàn của tiếng niệm Phật.
Như tôi đã nói với các bạn, tôi không mong niệm Phật để hết bệnh nan y của tôi. Tôi niệm Phật cho linh hồn tôi, bởi tôi quá bất hạnh, khi chết con tôi sẽ không có rước thầy chùa tụng kinh như các đám ma khác. Nó giàu có nhưng nó chạy theo vật chất kim tiền, không biết Đạo là gì đâu. Như vậy, lúc sống tôi tự tụng cho tôi, tôi tự niệm cho tôi thì tốt hơn.
Nào ngờ, tôi gần như hết bệnh, như các bạn đã xem kết quả siêu âm ngày 15/12/2011. Hiện tại, tôi thấy như mình đã bình phục, chất lượng sống tăng lên nhiều, làm việc nhiều không bị mệt…Những lời Phật dạy không hề sai. Những lời Phật dạy bao giờ cũng đúng .
Ngày hôm nay, tôi mạn phép viết ra tâm sự đời tôi cho các bạn có thêm niềm tin.
Nếu bạn là bệnh nhân có chứng bệnh nan y. Xin bạn hãy bình tĩnh và đừng tuyệt vọng. Có thể, ngoài trường hợp đặc biệt của tôi, đa phần sự sống của bạn là cần thiết cho xã hội, cho bạn bè, gia đình, chồng, vợ , con cái… Bởi vậy, bạn cần phải sống.
Xin bạn đừng để cho sự chữa trị bó tay rồi mới nghĩ đến niệm Phật. Hãy niệm Phật ngay từ bây giờ. Hãy niệm Phật ngay khi có duyên đọc bài nầy. Mau lên, kẻo trễ !
Là Lương Y, tôi đã từng chứng kiến rất nhiều người muốn niệm Phật, muốn thốt lên sáu chữ “Nam Mô A Di Đà Phật”, nhưng bị tai biến mạch máu não nên không há miệng, không nói thành tiếng được. Thật là đau khổ vô cùng. Vậy thì đang còn có thể nói được, hãy tha thiết với câu “Nam Mô A Di Đà Phật”, bạn nhé !
Tôi xin nói thêm :
– Không phải niệm Phật một ngày một buổi mà được cứu hết bệnh. Cũng có người niệm thời gian ngắn mà đạt, cũng có người niệm lâu chưa thấy gì. Đó là do căn cơ, trình độ , nghiệp quả khác nhau. Có bạn sẽ hỏi tôi, tại sao tôi niệm trong vòng chưa tới một năm, mà bạn niệm hai năm vẫn còn bệnh ?

Thí dụ: Tôi thiếu nợ một tỷ, mà thời gian một năm tôi góp chỉ được một triệu để trả, như vậy còn thiếu nhiều lắm, phải cố lên !
Sau đây, tôi xin góp một chút ít kinh nghiệm từ riêng bản thân tôi, hi vọng có thể trợ giúp bạn đạt kết quả mau hơn như sau :
1/Sáng dậy sớm, cúng nước, đốt nhang , khấn : ÔM LAM ÔM SỈ LÂM: (7 lần )
– Con tên …xin niệm NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT, hồi hướng oan gia trái chủ, Cửu Huyền Thất Tổ, các chúng sanh khắp pháp giới. (Một ngày thực hiện 1 lần, rồi trong ngày lúc nào rảnh thì niệm hoài) .
– Tụng chú vãng sanh 10 lần (hay hơn nữa ) lúc sáng. Bạn tụng tối , khi đi ngủ và dứt tiếng niêm Phật.
CHÚ VÃNG SANH: (10 lần )
– NAM MÔ A DI ĐA BÀ DẠ, ĐA THA GIÀ ĐÁ DẠ, ĐA ĐỊA DẠ THA, A DI RỊ ĐÔ BÀ TỲ, A DI RỊ ĐA TẤT ĐAM BA TỲ , A DI RỊ ĐA TỲ CA LAN ĐẾ, A DI RỊ ĐA TỲ CA LAN ĐA , DÀ DI NỊ, DÀ DÀ NA , CHỈ ĐA CA LỆ ,TA BÀ HA.
SÁM HỐI : (Tụng 10 lần, lạy 10 lần …)
Xưa con đã tạo bao ác nghiệp. Đều do vô thỉ tham, sân, si. Từ thân, miệng, ý trót sanh ra. Hết thảy hôm nay đều sám hối.
2/ Có câu :”Phật dụng tâm”, quý bạn phải tin Phật, niềm tin này phải chắc chắn, niệm Phật với tất cả tấm lòng . Như tôi đã nói ở trên, có người cầu được sớm, có người cầu thấy lâu quá chưa được. Nhưng tôi khuyên bạn hãy giữ niềm tin, rồi bạn sẽ như ý.
3/ Bạn hãy KIÊN NHẪN, có công mài sắt, có ngày nên kim. Nếu không phải là Phật tử như tôi, chưa biết niệm Phật là gì, thì có lúc bạn bị ma chướng quấy phá như là buồn ngủ, như là thấy chán, như là bị những lời nói chê bai, châm chọc…Xin bạn đừng chán, cố lên và cố lên. Bạn cũng có thể cho tôi biết và tôi sẽ niệm cùng với bạn, tôi xin hồi hướng để trợ giúp bạn lúc ban đầu gặp khó khăn …
Kính thưa quý vị ,sáu chữ “Nam Mô A Di Đà Phật” là một sự mầu nhiệm tuyệt vời. Không phải chỉ dành cho bệnh nhân, cho người Phật tử. Niệm Phật không phân biệt tôn giáo, màu da, sắc tộc đều có thể niệm được .
Sau khi đọc bài nầy thì các bạn hãy củng cố niềm tin. Niệm Phật trong lúc khỏe mạnh, bình an, trong lúc giàu có, may mắn cũng như lúc đau khổ tận cùng như tôi, bạn nhé …Rồi bạn sẽ thấy sự mầu nhiệm.
(Phật tử Từ Tâm Đạo.)
P/s: Thưa quý vị, tất cả hồ sơ bệnh án, siêu âm, điện tâm đồ… của tôi đều có đầy đủ, cần xem cho biết thì bạn có thể email cho tôi. Chúc quý vị thường tinh tấn và an lạc.
Email: minhyen1408@yahoo.com
___________________________________

CẦU NGUYỆN VÀ CẢM ỨNG

Tôi tên Võ Văn Dần, sau đây xin được thuật lại câu chuyện của chính gia đình tôi, hi vọng những ai cũng lâm vào cảnh ngộ giống như tôi nhân câu chuyện này mà tự tìm được lối thoát cho mình. Tháng 11/2012, sau khi đã mang thai được hơn 5 tháng, nhà tôi đi siêu âm và được bác sĩ cho biết kết quả thai nhi phát triển không bình thường, có dấu hiệu của bệnh Down (đao).
Từ khi nhận hung tin, không khí trong gia đình tôi nặng nề như bị đè dưới núi đá. Sau giờ làm việc ở cơ quan, hai vợ chồng cứ nhìn nhau, rồi nhìn vào bụng vợ – nơi có đứa bé không bình thường ấy. Im lặng, im lặng, một sự im lặng thật đáng sợ! Thế rồi, tôi cũng tìm được hướng đi cho chính mình.
Gia đình tôi theo Phật, có người đi xuất gia. Đêm đến, tôi chắp tay niệm Phật A Di Đà, vừa niệm Phật vừa hướng tâm về đứa bé đang nằm trong bụng mẹ, đồng thời liên tục thắp hương khấn nguyện các vị chư thiên, thiện thần từ bi gia hộ.
Hai tháng sau, nhà tôi đi kiểm tra thai nhi lần nữa và cũng nhận một kết quả tương tự như lần trước. Không tiến thoái lưỡng nan, những lúc ở cơ quan, giờ rảnh rỗi, lúc ra chơi, tôi cũng tranh thủ tìm nơi yên tĩnh để niệm Phật vài câu. Trước khi ngủ tôi niệm Phật, có đêm trong giấc mộng, tôi nghe thấy tiếng niệm Phật vang dội cả đất trời, tỉnh dậy lòng thấy vui, phấn chấn, nhẹ nhàng và càng nung nấu ý chí, quyết tâm niệm Phật cầu nguyện cho con an lành.
Thật linh ứng và vi diệu tuyệt vời! Có cầu ắt sẽ có ứng. Tháng 3-2013 vừa qua, nhà tôi đã sinh một bé trai 3,5 kg, mặt mày khôi ngô tuấn tú, và đặc biệt các bác sĩ sau khi kiểm tra kỹ đã cho biết, bé không có dấu hiệu của bệnh Down.
Thế là, không khí nặng nề, phủ trùm bóng tối lâu nay trong gia đình tôi đã biến mất, niềm vui như vỡ òa, bà con nội ngoại đến chúc mừng xúm xít.
Có được niềm vui ấy là nhờ suốt hơn 4 tháng qua tôi đã thành tâm, kiên trì niệm Phật. Còn vợ tôi từ khi nhận hung tin, tinh thần sa sút, mặt mày ủ rũ, nay đã lấy lại tinh thần, sắc thái tươi vui.
Trước hiện tượng trên, mọi người trong gia đình tôi ai nấy đều lấy làm ngạc nhiên, có người nghi ngờ bệnh viện: “Máy móc thiết bị hiện đại mà siêu âm không chính xác”. Còn vợ chồng tôi chỉ nhìn nhau mỉm cười và thành thật chia sẻ với mọi người: “Bé trai kháu khỉnh này là do tụi con chí thành niệm Phật đấy!”.

( Theo : kienthuc.net.vn.)


GIẢI NGHIỆP SÁT SINH

Tôi là Thích Minh Hòa, trụ trì chùa Phước Hưng, ấp Thạnh Hiệp, xã Hòa Thạnh, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Tôi xin kể lại câu chuyện nhân quả thực tế của tôi và mẹ tôi, bị quả báo do những ác nghiệp mẹ con tôi đã gây ra.
Do thiếu phước, tôi sinh ra đời không có cha và sống trong sự nghèo khổ dưới sự bảo bọc của người mẹ. Theo lời mẹ tôi kể lại, để sinh sống, mẹ tôi bán khoai mì. Một đầu thì gánh tôi, một đầu thì gánh khoai mì ra chợ bán. Cuộc sống vẫn không đủ cho hai mẹ con, mẹ tôi phải đi làm vợ bé cho một gia đình giàu có ở trong xóm. Tôi bị ngược đãi.
Lúc 6 tuổi, ban ngày tôi phải đi chăn bò. Nhiều lúc, tôi bị bò húc ngay trước ngực, thậm chí còn bị đá lăn mấy vòng. Có một ngày, người con của ông chủ đi câu cá, thấy bò đói thì lấy cần câu quất vào lưng tôi. Tôi chỉ chịu đựng và khóc. Chưa hết, ban đêm, tôi phải đi soi ếch, nhái, cá… đem về cho mẹ tôi làm thịt để phục vụ cho gia đình đó. Bởi vì sát sinh quá nhiều cho nên tôi bị bệnh thường xuyên.
Mẹ tôi phải bán hết đồ đạc của bà để chữa trị cho tôi. Mỗi lần bệnh như vậy, không có bác sĩ nào chữa lành bệnh cho tôi. Mẹ tôi đưa tôi về chùa, xin cơm thừa và áo thừa của chùa để mặc thì hết bệnh. Có một lần tôi trải qua một cơn bạo bệnh rất nặng, mẹ tôi hứa với Tam Bảo khi tôi hết bệnh sẽ cho tôi vào chùa làm công quả 3 tháng. Kết quả là tôi qua được cơn bệnh. Khi tôi vào chùa làm công quả được một tháng thì thầy cho tôi xuất gia năm 6 tuổi.
Lúc 13 tuổi, tôi thấy cuộc sống của mẹ tôi quá khổ cực, phải chăn bò, nghèo quá thiếu gạo ăn. Tôi phải xin Sư phụ cho về nhà hoàn tục để phụ giúp đời sống cho mẹ. Vì không biết phải làm nghề gì cho cuộc sống, tôi phải đi soi bắt ếch, nhái, ốc, cá.
Từ lúc đó, tôi trở thành người sát sinh số một. Con ếch, nhái nào mà mạnh thì tôi bẻ chân, rồi mẹ tôi cắt đầu, lột da đem ra chợ bán. Khi mẹ tôi cắt đầu lột da chúng ra, chúng chắp hai chân trước lại như đang van xin tha mạng. Còn cá thì tôi chích điện. Con lớn đem ra chợ bán, con nhỏ thì ăn. Đồng thời, tôi cũng ác lắm, con nào tôi muốn bắt mà nhảy nhót lung tung làm tôi bực mình, tôi lấy kim hay gai nhọn đâm vào mắt cho đui luôn, máu từ hai mắt chúng chảy ra.
Hai mẹ con tôi đã sát sinh không biết là bao nhiêu. Mỗi ngày đem ra chợ bán khoảng 1.000 con. Quí vị thử tính đi một tháng là bao nhiêu? Rồi một năm là bao nhiêu? Hai mẹ con tôi làm như vậy suốt 8 năm trường tính ra giết khoảng hơn 3 triệu con.
Năm 17 tuổi, tôi lên thành phố Hồ Chí Minh đi làm. Khi bắt đầu có tiền, tôi ăn chơi sa đọa. Trong thời gian kiếm tiền, tôi lại phạm tội sát sinh khi làm việc tại Làng Nướng. Tôi phải giết rắn, tôm, heo, kỳ nhông… rất là tàn ác.
Năm 22 tuổi, tôi có dư được một số tiền. Tôi bắt đầu bị quả báo. Bệnh tật đến với tôi. Tôi bị viêm khớp chân, đi đứng không nổi. Bao nhiêu tiền bạc tôi kiếm được đều tiêu hết cho căn bệnh này. Lúc đó tôi cảm thấy chết còn sướng hơn, cuộc đời này quá chán chường.
Tôi trả quả khủng khiếp. Ai đã từng trải qua viêm đau khớp, nhức khớp, sưng hai quả thận thì biết nỗi khốn khổ này. Các bác sĩ đều bó tay bỏ chạy. Ban đêm, quí vị lấy dao chặt tay của tôi còn nhẹ hơn cái đau nhức này. Có nhiều khi tôi lấy lưỡi lam rạch da thịt tôi cho máu chảy ra để đỡ nhức nhưng không hiệu quả. Khi nó nhức lên, cảm giác như ai đó lấy con dao cắt xương thịt của mình. Mỗi lần bệnh là bán sống bán chết. Càng ngày cơ thể tôi càng đau đớn. Khớp giò của tôi sưng lên, các cơ teo lại và ra mùi hôi thúi. Trong cơn bệnh, thân thể tôi phát nhiệt nóng thiêu đốt cơ thể. Tôi có cảm giác hàng ngàn mũi kim đâm lên cơ thể tôi nhức nhối, đau đớn vô cùng.
Tôi cảm thấy trả nghiệp hết nổi và sắp mất mạng. Tôi quỳ trước Phật sám hối và xin:
“Phật ơi, cho con xin trả quả báo từ từ – rồi tôi phát nguyện – Nếu con đi tu, suốt cuộc đời con sẽ bán thân này cho Phật, cho Trời, cho Đất. Con không nghĩ gì về cho bản thân con hết. Con sẽ cố gắng tu hành cho tốt. Nếu con làm thầy thuốc thì xin cho con được tay phục dược để chữa bệnh cứu giúp chúng sinh”.
Kết quả của lời phát nguyện này rất là nhiệm mầu. Tôi gặp được một ông thầy thuốc Nam trị lành bệnh khớp. Sau đó tôi xuất gia.
Quả báo kế tiếp, tôi bị mù mắt ba tháng. Đêm đó tôi cảm thấy bứt rức, khó chịu, cơ thể phát nóng đến sáng tự nhiên đôi mắt tôi đỏ hoe hầu như không tiếp xúc được ánh sáng nữa. Nếu tiếp xúc ánh sáng, cặp mắt tôi đau đớn vô cùng. Đúng là nhân quả, bác sĩ dùng kim châm vào mắt tôi để chữa trị nhưng không khỏi. Cặp mắt của tôi đau đớn vô cùng, hai hàng máu chảy ra từ cặp mắt.
Vì mới xuất gia nên tôi chưa biết chú Đại Bi là gì, chưa biết con đường nào đi cho đúng. Lúc đó thầy Trí Thông đang là tăng sinh học chung với tôi, trong một cuộc trò chuyện thầy khuyên tôi nên trì chú Đại Bi để giải nghiệp.
Tôi trì tụng chú Đại Bi ngày đêm không ngừng nghỉ. Nhiệm mầu thay! Trong vòng 7 ngày, đôi mắt tôi giảm đau và máu bớt chảy. Tôi nhìn thấy ánh sáng lổm chổm như tổ ong. Tôi đến bác sĩ để chữa trị tiếp. Bác sĩ chữa bằng cách dùng kim chích vào mắt tôi rồi bơm thuốc vào.
Tôi đã thấy quả báo mà tôi gánh chịu. Khi xưa tôi dùng kim chích làm mù mắt chúng sinh, bây giờ tôi bị các bác sĩ lấy kim chích vào mắt nhiều lần để trị bệnh. Vừa trị bệnh tôi vừa thành tâm niệm chú Đại Bi, sống chết với chú Đại Bi, đi đứng nằm ngồi đều trì chú Đại Bi. Vi diệu thay! Trong vòng một tháng cặp mắt của tôi trở lại bình thường.
Mẹ tôi cũng bị quả báo, đang sinh hoạt bình thường thì tự nhiên rùng mình và hai tay bắt đầu rung lên không ai có thể giữ lại được y chang như con nhái đang bị cắt đầu và xin tha thứ. Gương mặt của bà thì tròn trịa nhưng thân mình y như một con nhái. Bà bị rút gân vô cùng đau đớn. Mẹ tôi không đi đứng được, nằm một chỗ trả quả.
Mẹ tôi ý thức được tội ác mà mình đã tạo ra, bà chấp nhận trả nghiệp. Trong thời gian trả quả báo, mẹ tôi muốn ra khỏi cõi Ta Bà (tức trần gian) đầy khổ đau này, nên bà luôn niệm hồng danh Phật A Di Đà để cầu được vãng sinh về cõi Cực Lạc.
Công phu niệm Phật của mẹ tôi trải qua 8 năm thì bà đã vãng sinh vào tháng 9 – 2013. Khi hỏa táng, mẹ tôi để lại hai viên Xá lợi, một viên màu vàng và một viên màu trắng từ tủy. Riêng đôi mắt và 2 cái răng không bị cháy. Một điều vi diệu là trước khi vãng sinh, thân thể của mẹ tôi đang co rút thì trở lại bình thường. Bà vẫy tay chào mọi người đang hộ niệm xung quanh với nụ cười rồi vãng sinh về cõi Phật.
Vì nhận thức được những nghiệp ác của mình nên sau khi xuất gia tu tập, tôi nhận chùa Phước Hưng và phát nguyện làm nghề thuốc Nam chữa bệnh cho người nghèo để bù đắp phần nào những nghiệp ác đã tạo ra. Khi bắt đầu trụ trì chùa Phước Hưng, tôi hái những lá thuốc chữa những căn bệnh viêm khớp, nhức khớp cho đồng bào sống chung quanh chùa. Vừa hành nghề, tôi vừa học thêm về ngành thuốc. Tiếng lành đồn xa, càng ngày càng có nhiều bệnh nhân đến với tôi. Tôi phải đi học một khóa ở trường thuốc Đông Y, được hội Đông Y cho phép chữa bệnh và chính quyền địa phương cấp giấy phép vào rừng tìm cây thuốc Nam về chữa bệnh cho đồng bào mình.
Trong quá trình điều trị có nhiều câu chuyện thương cảm về những bệnh nhân đang bị trả nghiệp mà họ không biết. Nhiều bệnh nhân gặp tôi khóc lóc và than: “Thầy ơi, cứu con, con bệnh riết rồi chồng con bỏ con” hoặc là “Thầy ơi, tôi nuôi hai đứa con, vợ tôi bỏ trốn mất tiêu”. Có nhiều bệnh nhân kinh ngạc không tin khi tôi chẩn đoán bệnh và nói: “Bệnh này uống thuốc một tuần là hết”, người bệnh kêu lên: “Trời ơi! Tôi chạy chữa hết tiền, hết của mới tìm đến thầy đó”. Những bệnh nhân này đã được tôi trị lành trong một thời gian ngắn.
Có nhiều bệnh nhân bị những căn bệnh nan y mà các bác sĩ Tây y, Đông y trả về sau khi dùng đủ cách điều trị cho họ. Nghiệp sát của họ rất nặng, chuyên bán giết gà, vịt, heo… Có lẽ có cùng cộng nghiệp với tôi nên họ đã tìm đến tôi và được trị lành bệnh. Đồng thời có những bệnh nhân là người trong xã hội đen bị bệnh nặng được tôi chữa lành. Sau này, những vị này trở về cuộc sống lương thiện.
Nhiều bệnh chữa trị ở các bệnh viện Tây y không thuyên giảm như: bướu đại tràng, sơ gan, khối u gan, viêm đa khớp, thoái hóa khớp, tiểu đường, bệnh về tim và những bệnh nan y khác nhưng khi họ đến chùa chữa trị thì khỏi bệnh.
Đa số những bệnh nhân đến với tôi là những người bệnh ung thư vào thời kỳ cuối. Họ bị bệnh viện Ung Bướu thải ra về nhà chờ chết. Khi tôi coi bệnh án và nói: “người này có thể sống” thì họ được chữa lành và sống. Khi bệnh án của họ không thể chữa được, tôi khuyên họ trì chú Đại Bi. Nhiều người nghe lời tôi, trì tụng chú Đại Bi mà được lành bệnh.
Có một trường hợp thương cảm là một người mẹ trẻ có một đứa con mới sinh 11 tháng bị bệnh ung thư máu. Người mẹ này rất khổ đau lo lắng, ẵm đứa con thân yêu đến khóc lóc cầu cứu, xin được trị lành bệnh. Tôi bắt mạch và cho thuốc, sau một thời gian ngắn đứa trẻ khỏi bệnh. Người mẹ cám ơn tôi rối rít.
Công việc trị bệnh được thuận lợi là tôi nhờ trì chú Đại Bi mỗi ngày với lời nguyện là cứu giúp mọi người. Chú Đại Bi quả rất linh nghiệm. Nhờ chú Đại Bi mà tôi được giải nghiệp và thành tựu những lời phát nguyện.
Tôi xin chia sẻ câu chuyện nhân quả của mình với mọi người như vậy. Mong rằng những ai đang rơi vào trường hợp như tôi có thể hiểu được nhân quả nghiệp báo của mình mà phản tỉnh quay đầu sám hối.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật !
(Thích Minh Hòa )


THẦN DƯỢC CHÚ ĐẠI BI
( Thích Nữ Quảng Nghiêm )

Thuở nhỏ tôi đã mang chứng bệnh viêm xoang, viêm họng, bao tử mãn tính. Bệnh tật luôn luôn hành hạ, đau khổ vô cùng. Từ đó, tôi sớm nhận ra kiếp sống nhân sinh vô thường huyễn hóa, tôi đã giác ngộ chân lý Phật Đà. Tôi phát nguyện xuất gia. Hiện nay, tôi là Trụ Trì chùa Lương Phước -Tiền Giang.
Từ tháng 4 năm 2000, sức khỏe tôi suy yếu dần dần… Khi đến bệnh viện Chợ Rẫy khám, Bác sĩ chẩn đoán là bị ung thư đường ruột. Tôi không tin, lại tiếp tục khám tại bệnh viện Hòa Hảo, cũng là ung thư đường ruột, đầu óc tôi quay cuồng, và nghĩ vướng vào bệnh nầy thì có mà chết thôi!. Được sự hướng dẩn của Chư tôn Thiền Đức, tôi quyết định nhịn đói, nhập thất: phát tâm trì tụng CHÚ ĐẠI BI và niệm NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.
Mỗi ngày tôi chỉ uống nước, không ăn, chuyên niệm Thần Chú. Đến đêm thứ 7, tôi mằm mộng thấy hai Ni sư, một lớn, một nhỏ hiện đến đưa cho tôi một viên thuốc rất to, và bảo nên uống đi sẽ hết bệnh để tiếp tục làm Phật sự.
Đến sáng thức dậy, tôi nghe trong người rất khỏe, bụng tôi bớt sôi. Tôi tiếp tục hành trì cho đến ngày thứ 9, và ngưng nhịn đói. Khoảng vài ngày sau, tôi tái khám tại bệnh viện Chợ Rẫy, và sau khi xét nghiệm lại được Bác sĩ cho biết chứng ung thư ruột đã được lành tính, viêm xoang, viêm họng, đau bao tử mãn tính , đều không còn nửa . Sức khỏe tôi dần dần hồi phục. Hiện nay tôi mập mạp ra, khỏe mạnh lên, làm việc nhiều không biết mệt là gì…
Đây quả là một sự mầu nhiệm không thể nghĩ bàn. Kể từ đó tôi luôn tụng trì Thần Chú Đại Bi không biết nhàm mỏi.


MỘT TRƯỜNG HỢP KHÁC…
Tôi là một Phật tử, pháp danh Diệu Đài. Tôi phát bệnh ung thư tuyến giáp trong vòng 3 năm. Vào năm 2008 ,sau khi đã uống thuốc, xạ trị, dùng hết cách mà bệnh càng trầm trọng. Tôi rất sợ mổ, giải pháp cuối mà Bác sĩ Bệnh viện Ung Bướu đưa ra là phải lên bàn mổ, nhưng hy vọng cũng khoảng 50%, vì tôi để lâu quá.
Tôi thường xuyên niệm danh hiệu Bồ Tát Quan Thế Âm , và suốt ngày than thở năn nỉ Ngài về bệnh trạng đau khổ của tôi… cùng với trì chú Đại Bi mỗi ngày 5 biến. Sau khi từ bàn mổ của bệnh viện chạy về nhà, tôi hoang mang như người mù trong đêm tối, và suy đi nghỉ lại không biết làm sao mà cho hết bệnh để tiếp tục tôi đường tu trì còn dang dở.
Tôi thường tâm sự với Bồ tát. Một ánh sáng đã lóe trong đầu tôi: đó là sự linh ứng của Thần chú Đại Bi . Trong 12 nguyện của Bồ Tát, chỉ duy nhất Thần Chú nầy mới mong giành lại sự sống cho tôi.
Thế là tôi phát nguyện tụng 12.000 biến (1 biến tức là 1 lần đọc). Cứ mỗi ngày, từ 5 biến, tôi tăng lên 10, 15… tăng dần… cứ mệt là tôi tụng chú và lại thấy khỏe ra. Tôi ăn chay trường đã được 8 năm và dù có bệnh tôi vẫn không phá giới. Như bòn mót từng hạt cát cứ mỗi lần tụng tôi đều ghi ra.
Khi tụng đến 2000 biến, tôi đi xét nghiệm, khám lại và kết quả Bác sĩ kết luận: TÔI ĐÃ HẾT UNG THƯ TUYẾN GIÁP.
Vừa qua, vào năm 2010, tôi cùng quý vị Phật tử của chùa Châu An cùng với sự hướng dẩn của Đại Đức Thích Thiện Từ, leo núi Yên Tử với phát nguyện “nhất bộ, nhất bái”, cầu hòa bình thế giới và thái bình thịnh trị của đất nước Việt Nam. Lúc nầy tôi vừa khỏi bệnh, sức khỏe còn yếu, nhưng không thể chối từ vì lâu lắm mới có chuyến đi Yên Tử. Tôi mạnh dạn đòi theo, và không biết phép lạ nào đã giúp tôi lên tận chùa Đồng và đánh được 3 tiếng chuông vàng.
Lời Phật dạy không sai, và Thần chú mầu nhiệm không thể nghĩ bàn, đúng như lời của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát từng bạch với Phật Thích Ca Mâu Ni từ hơn hai ngàn năm trước rằng:
“Bạch Đức Thế Tôn, nếu chúng sinh nào tụng trì Thần Chú Địa Bi mà còn bị đọa vào ba đường ác, tôi thề không thành chánh giác. Tụng trì Thần chú Đại Bi mà không về cõi Phật tôi thề không thành chánh giác. Tụng trì Thần chú Đại bi, tất cả mọi mong cầu trong đời hiện tại nếu không được vừa ý, thì chú nầy không được gọi là Đại Bi Tâm Đà-la-ni. Chỉ trừ kẻ cầu việc bất thiện và tâm không thành, cũng như lòng còn nghi ngờ thì không được toại nguyện mà thôi !”…
Phật tử Diệu Đài .
( Địa chỉ: 65/57 D1 Tăng Nhơn Phú – Phường Phước Long Bình – Quận 9, điện thoại: 08.62791915 )


SỐNG LẠI NHỜ KINH ĐỊA TẠNG

Tôi tên Thu Hương, là một Phật tử ở DakLak ( thôn 14 xã Eadar, huyện Eakar, Daklak), hôm nay xin được tâm sự với mọi người về sự linh ứng vi diệu của Kinh Địa Tạng mà bản thân tôi từng được trải nghiệm.
Truyện là về bà ngoại tôi, bà là người có niềm tin sâu chắc vào Phật Pháp, thường ngày bà hay tụng Chú Đại Bi và niệm Phật.
Gần đây, bà lâm bệnh nặng, gia đình tôi đưa bà lên bệnh viện theo dõi thì bà đã hôn mê, bất tỉnh. Tay chân và người bắt đầu lạnh, lưỡi bắt đầu cứng lại. Bệnh viện họ quyết định trả bà về, gia đình tôi ai cũng nghĩ là bà sẽ không qua khỏi. Ba và chị gái tôi ở xa cũng đã về để gặp bà lần cuối.
Những ngày đó tâm trí tôi rối bời, không hiểu vì sao một Phật tử tinh tấn như vậy, khi lâm chung lại hôn mê đến thế ?
Tôi liền phát tâm tụng kinh Địa Tạng hồi hướng công đức cho bà. Khi tụng hết quyển Trung ( Kinh Địa Tạng chia làm 3 phần: quyển Thượng, Trung và Hạ ), thì lưỡi bà đã thấy ướt và cử động được, đến chiều tay chân cũng cử động được, thật vi diệu. Cũng hôm đó, tôi có nói với bà nên sám hối, và nhờ thêm người dì sám hối thay cho bà những nghiệp chướng sát sinh trong quá khứ khiến bà bị hôn mê lúc này.
Sang hôm sau, tôi tụng hết quyển Hạ, hoàn tất kinh Địa Tạng, thì bác sĩ cho rút ống ở mũi ra, bà bắt đầu ăn được nửa chén cháo, và có thể nhờ người nhà đỡ dậy. Cũng từ đó bà khỏe dần lên.
Cho đến hôm nay (5 /6 /2016 ) từ một người Bệnh viện quyết định trả về, bà tôi đã bình phục và có thể đi lại được. Gia đình tôi ai cũng vui mừng khôn siết, và hết lòng cảm ân Phật Pháp đã cứu sống bà. Kinh Địa Tạng quả là vi diệu không thể nghĩ bàn.


SÁM HỐI VỚI HEO

Tôi tên Thùy Hương , pháp danh Diệu Lan, hiện tôi 38 tuổi (2017), sống tại TP. HCM. Tôi có nhân duyên rất lớn với Bồ Tát Địa Tạng. Câu chuyện tôi sắp kể ra đây cũng nhờ trì tụng kinh Địa Tạng và thành tâm sám hối nên căn bệnh viêm họng hạt, biến chứng sang bệnh xoang của tôi đã lành hẳn, không những thế, còn giúp tôi nhớ lại được một tiền kiếp của mình.
Vào năm tôi 18 tuổi, khi vừa tốt nghiệp PTTH, tôi phát hiện ra mình bị một chứng bệnh lạ, khoảng từ 3-5h sáng mỗi ngày, khi giấc ngủ say nhất thì tôi đều rất ngứa trong cuống họng.
Tôi ngứa đến nỗi phải thò tay vào trong họng để gãi, hoặc khọt khẹt rất mạnh trong cổ cho đã ngứa.
Vì lười biếng đi khám nên tôi toàn ra hiệu thuốc tây nói triệu chứng và mua thuốc về uống.
Nhưng cuối cùng, tôi cũng phải đi bệnh viện khám vì quá khó chịu. Bác sĩ của bệnh viện Tai –Mũi –Họng TP.HCM chuẩn đoán tôi bị viêm họng hạt mãn tính, cả đời phải sống chung với nó, dù có chữa cũng không khỏi.
Nghe vậy, tôi đành chấp nhận vì bác sĩ đã nói vậy thì làm sao mà chữa hết được. Cứ thế tôi uống thuốc ngày này qua tháng nọ, một năm có 365 ngày thì tôi uống không sót một ngày nào. Nếu như quên thuốc chỉ một ngày thì tờ mờ sáng hôm đó lại ngứa cổ ngay.
Đến năm 23 tuổi, một người bạn chỉ tôi đi đốt những nốt hạt trong họng. Tôi cũng đi, và đây quả thật là khoảng thời gian khá thoải mái vì tôi không còn cảm giác ngứa nữa.

Nhưng cũng chẳng bao lâu sau. Tôi lại trở lại triệu chứng ngứa cuống họng như lúc trước. Một lần nữa tôi lại đi đốt các hạt viêm trong họng.
Cũng như lần trước, sau khoảng thời gian ngắn là bệnh của tôi lại tái phát. Lần này, tôi lại đến bệnh viện xin đốt hạt viêm, sau khi thăm khám, bác sĩ bảo rằng không thể và cũng không nên đốt vì cuống họng bên trong của tôi đã mỏng lắm rồi.
Nghe vậy, tôi rất buồn vì lại phải làm bạn với thuốc cả đời. Tôi luôn tự hỏi tại sao người khác bệnh chữa hết, còn tôi lại không hết?
Khi lập gia đình, sinh đứa con đầu lòng, trong thời gian ở cữ, tự dưng tôi nghe hơi thở của mình có vị tanh.
Vì nghĩ cơ thể vừa trải qua sinh nở nên còn yếu, tôi để mặc nó với niềm tin là ra tháng sẽ hết
Nhưng không, tôi vẫn ngứa cuống họng và hơi thở vẫn thấy mùi tanh. Tôi liền đi khám và lần này bác sĩ thông báo với tôi rằng, tôi bị vẹo vách ngăn, bệnh viêm họng hạt đã biến chứng sang bệnh xoang.
Vậy xem như cả đời này tôi phải sống chung với bệnh viêm xoang, vì có lẽ ai cũng biết viêm xoang khó mà chữa lành bệnh. Tôi uống đủ thứ thuốc, ai chỉ gì uống nấy, bệnh tuy không nặng hơn nhưng cũng không thuyên giảm chút nào.
Cho đến khi hội đủ duyên lành, tôi biết đến kinh Địa Tạng. Ban đầu, tôi chỉ đơn giản trì tụng xong là hồi hướng cho chúng sanh. Nhưng về sau, vì bệnh tật bức bách, tôi muốn đem công đức tụng kinh để cầu được gặp thầy hay thuốc giỏi để chữa lành bệnh viêm xoang.
Khi tìm hiểu giáo lí nhân quả, tôi tự suy diễn rằng những kiếp trước mình buộc mũi trâu nên kiếp này bị bệnh xoang hành hạ. Tôi tự suy nghĩ vậy nên ung dung trì tụng kinh Địa Tạng và hồi hướng cho chúng. Bây giờ, mỗi lần nghĩ lại thì tự mắc cười vì suy diễn của mình.
Có lẽ do nhân duyên nhiều đời nhiều kiếp đã trì tụng kinh Địa Tạng, nên tôi thường gặp cảm ứng khi trì tụng.
Ngày nào như ngày nấy, tôi trì tụng đều đặn, cứ sắp xếp được giờ nào thì tôi tụng theo giờ ấy. Ngày nào cũng tỏ lòng kính ngưỡng với Bồ tát Địa Tạng.
Cho đến một buổi trưa năm 2012, như thường lệ, tôi đang cung kính tụng kinh, thì có một hiện tượng rất lạ xảy đến với tôi.
Giữa ban ngày ban mặt, tôi đang rất tỉnh táo tụng kinh, bỗng dưng nhìn thấy chung quanh mình rất, rất nhiều heo. Nằm kế bên tôi là con heo nái như đang mang thai. Xung quanh là các con heo khác nhiều vô kể. Tôi định thần, nhìn kĩ lại, rõ ràng chúng đang nằm ngoan ngoãn nghe tôi trì kinh, hình ảnh rất thực.
Cho là mình đang bị ảo giác, tôi xếp bằng theo thế kiết già, nhắm mắt, tĩnh tâm hầu xua đuổi những vọng tưởng không mong muốn.
Lạ kì thay, khi tôi định thần, tâm như nhập vào cõi hư không thì thấy một hình ảnh rất rõ. Tôi thấy một người đàn ông mập mạp, đeo tạp dề, chân mang ủng, có râu quai nón. Tạp dề vấy đầy máu. Ông ấy đang thoăn thoắt dùng con dao cắt cổ những con heo.
Có một con heo con, vì biết mình sắp chết nên ghì chặt hai chân sau xuống nên nhà, miệng kêu éc éc nghe rất thê lương. Nhưng với sức mạnh của một người đàn ông vạm vỡ, ông lôi hai chân trước của nó đi một đoạn, và cuối cùng con heo ấy cũng bị giết chết.
Tôi thấy rất rõ và chân thật như đang ở đó vậy. Trong cái cảnh tôi đang thấy thì thời gian tầm 4-5h sáng.
Nhưng sau khi nhìn thấy cảnh đó, tôi lại chìm vào an nhiên, để cho tâm thanh tịnh khoảng gần 20 phút, tôi mở mắt ra, thật lạ kì, bầy heo chúng vẫn nằm đó, rất ngoan. Không ồn ào gì cả.
Chợt hiểu ra, nhờ oai thần của kinh, tôi vừa thấy kiếp trước của chính mình – là một gã đồ tể chuyên mổ heo – lúc này tôi chấn động thật sự.
Buông quyển kinh đang còn trì tụng dở dang. Tôi quay lại vừa dập đầu khóc, vừa sám hối tội lỗi. Chưa bao giờ trong cuộc đời của tôi khóc to đến như vậy. Tôi lạy không biết bao nhiêu lạy, sự ân hận lên đến cực điểm. Tôi cứ lạy, miệng thì liên tục sám hối và nước mắt tuôn ra không ngớt.
Và thế là từ từ đàn heo như tan dần vào không trung. Do tôi quá nhập tâm lạy và sám hối, nên cũng không để ý là tôi đã không còn trông thấy đàn heo nữa.
Kể từ đó, ngày lại ngày, tôi đều đặn chân thành sám hối tội lỗi của mình, không những với bầy heo mà với tất cả những loài vật mà tôi đã từng giết hại.
Thời gian sau đó, cũng trong những khi tụng kinh Địa Tạng, những hình ảnh tiền kiếp lại hiện lên trước mắt tôi, đều là về kiếp làm đồ tể.
Tôi thấy gã đồ tể đó là người Trung Quốc, xem xét trang phục thì chỉ cách thời nay khoảng một thế kỉ là cùng. Tuy sát sanh nhiều, nhưng đôi khi gã cũng thắp nhang bái Phật. Gã cũng giúp vài người no bụng, ai lỡ đường nhưng hết tiền lộ phí, gã sẵn sàng thết đãi bữa cơm ngon. Có lần, khi đang chặt thịt để bán, gã nhìn thấy một người co rúm vì lạnh, gã cởi phăng cái áo đang mặc, choàng lên người ấy.
Một lần, gã đang say sưa làm công việc giết mổ. Bỗng nhiên tôi nghe “hự” một tiếng, gã ngã lăn ra đất. Tay chân cứng đờ, toàn thân không cử động được. Thì ra gã đã chết, chết ngay trong lò giết mổ của gã, có lẽ bị đột quỵ hay đại loại thế. Gã chết mà máu mồm ọc ra liên tục, mắt cứ trợn trừng không nhắm lại được, một cái chết đau đớn.
Tôi giật mình, mồ hôi tứa ra đầm đìa, sự sợ hãi tột độ. Sau lần đó, tôi không còn thấy những cảnh tiền kiếp ấy hiện ra nữa.
Quay trở lại căn bệnh viêm xoang của tôi. Tôi uống thuốc quả thật rất là ngán, uống từ 18 tuổi đến năm 34 tuổi (chỉ nghỉ được một thời gian ngắn khi đốt những hạt viêm họng). Số tiền tốn vào tiền thuốc không biết bao nhiêu mà kể.
Nếu không uống thì lại ngứa cuống họng vào khoảng thời gian 3-5h sáng – chính là khoảng thời gian đồ tể giết heo.
Sau gần hai năm tụng kinh sám hối tội lỗi kiếp xưa, nghiệp xấu tiêu tan, oán thù với bầy heo chắc đã được hóa giải, khiến tôi gặp một duyên lành. Có một người chỉ tôi dùng cây xương cá (hay còn gọi là cây giao) nấu lên và hít. Tôi cũng thử hít, tuy nhiên không hi vọng bệnh mình khá hơn vì tôi đã thử quá nhiều cách rồi, hơn nữa đâu phải ai dùng cách này cũng khỏi bệnh đâu.
Tôi nấu nước và hít đúng 21 ngày. Ban đầu rất khó hít, nhưng sau quen dần, tôi liều bỏ thuốc không uống nữa.
Theo dõi vài hôm sau, tôi đã không còn bị ngứa cuống họng nữa. Hơi thở cũng không nghe tanh. Tôi đi chụp hình xoang thì bác sĩ báo cho tôi một tin rất vui, lỗ xoang đã được thông – tôi đã hết bệnh.
Khi nghe bác sĩ nói như vậy, tôi chạy nhanh về nhà, vội quỳ trước bàn thờ và cám ơn những con heo đã tha thứ cho tôi. Cám ơn sự linh ứng, màu nhiệm của Phật pháp đã hoá giải mối oán thù từ nhiều đời nhiều kiếp giữa tôi và bầy heo.
Cho đến nay ( 2017) là đã gần 4 năm. Tôi không bệnh lại, nhưng thỉnh thoảng vẫn chảy nước mũi, xong chỉ cần nghỉ ngơi vài tiếng là khỏi.
Hiệu lực sám hối và trì tụng kinh thật không thể nghĩ bàn. Chỉ cần thành tâm y giáo phụng hành, thì khi đủ nhân duyên, mọi điều mong cầu tất sẽ linh ứng.
Cho đến thời điểm này, mỗi ngày tôi đều mỗi sám hối. Lòng luôn kính thờ, quy ngưỡng Địa Tạng Vương Bồ tát. Đối với Ngài, tôi quả thật có nhân duyên rất sâu đậm, bản thân tôi có nhiều chuyện linh ứng liên quan đến Ngài.
Mong rằng những ai có nhân duyên với Tam Bảo, đều hiểu sâu nhân quả, ngoài việc tu tập, làm thiện, còn luôn biết hồi hướng phước báu cho oan gia quá khứ, sám hối chân thành mọi ác nghiệp, để nghiệp nặng hoá nhẹ, nghiệp nhẹ hoá lành.


BỊ TAI NẠN GIAO THÔNG, NHỜ CẢ NHÀ NIỆM PHẬT MÀ SỐNG LẠI
( Trích “Khuyên Người Niệm Phật”- Diệu Âm cư sĩ)

Người có lòng thành tín, có tâm lễ kính, biết y giáo phụng hành, trường kỳ chuyên tâm tu học thì người đó sẽ dễ đạt đến công phu thành thục. Trong đó sự thành kính là chìa khóa khai đạo. Thành tất linh. Thành kính sẽ được linh ứng. Đây là điều tối quan trọng chúng ta cần nên chú ý.
Xin kể ra đây một chuyện vừa mới xảy ra năm ngoái (2004) về một sự linh ứng bất khả tư nghì. Câu chuyện do ông Lâm Tâm Nhuận, một thành viên trong Ban-Trị-Sự hội Tịnh Tông ở Sydney Úc châu kể lại về một sự có liên quan đến đứa cháu trai, con người anh thứ tư của ông. Khi đó, người cháu trai 29 tuổi, có vợ và một con mới 18 tháng, là nạn nhân trong một tai nạn giao thông khá nặng vào ngày 28/2/2004 tại Malaysia.
Sau khi bị tai nạn, người cháu của ông được đưa về bệnh viện cấp cứu, nhưng đã bị chấn thương sọ não, nên đã hoàn toàn mê man bất tỉnh. Trong suốt ba ngày liền bác sĩ Tây y và Đông y đều liên tục theo dõi và chữa trị, nhưng sau cùng họ xác định rằng khó có hy vọng tỉnh lại, và báo cho gia đình biết rằng nạn nhân có thể ra đi bất cứ lúc nào.
Biết được bác sĩ đã vô phương cứu chữa, người anh của ông quyết định đem con về nhà niệm Phật hộ niệm, việc sống chết quyết lòng giao trọn cho Phật Bồ tát gia trì. Cháu ông được đưa về nhà và đặt nằm trong phòng thờ Phật. Trước thân thể bất động của con, người cha đã khai thị như vầy:
– Con à, hiện tại, vì một tai nạn xe mà khiến con bị ảnh hưởng và lâm vào tình trạng vô cùng nguy kịch, tánh mạng như chỉ mành treo chuông. Các bác sĩ ở bệnh viện đều phải bó tay chịu thua, cho nên ba mới đem con về đây niệm Phật. Nếu duyên thọ của con chưa dứt, thì hãy mau mau tỉnh dậy. Bằng ngược lại, thì ba đây vì con mà niệm Phật, niệm cho đến khi nào được đức Phật A Di Đà tới tiếp dẫn thì con mới đi. Bằng không, nếu có ai khác tới dụ dẫn con, con cũng mặc kệ, nhất định không theo. Nhớ lời dặn dò của ba và nương vào Phật mà liễu thoát sinh tử. Nhớ nhé! Nhớ nhé!
Nói xong, anh của ông bắt đầu đem hết tâm thành ra niệm từng câu Phật hiệu. Cả nhà cũng đều dốc lòng kiên trì thành tâm hộ niệm. Họ thành tâm niệm Phật, khẩn thiết cầu Phật Bồ-tát gia bị. Tất cả đều niệm Phật nhiếp tâm đến nỗi dường như quên cả thời gian và thực tại bên ngoài. Họ cứ niệm mãi, niệm mãi… không ngừng. Niệm cho đến sáng ngày thứ ba, (nghĩa là thêm ba ngày nữa, tất cả là sáu ngày trong cảnh mê man bất tỉnh), thì đứa cháu ông tỉnh dậy, tỉnh hẳn như người bình thường và có thể trở lại sở làm việc. Thật ngoài sức tưởng tượng!
Ai đã cứu cháu của ông thoát cái chết ? Ông viết tiếp:
– Tôi hỏi đứa cháu: “Trong lúc hôn mê con có thấy gì đặc biệt không? Con đã thấy gì, và đi đâu? Cháu tôi kể ra hết, đặc biệt nó nói là nó đã thấy đức Quán Thế Âm Bồ tát (giống y như bức Thánh dung mà ba mẹ đang thờ trong nhà) nhưng cao lớn lạ thường. Ngài được vây quanh bởi nhiều Thánh chúng, xuất gia có, tại gia có, số lượng đông đến không thể kể hết. Và đặc biệt trong số đó nó thấy có cả ông nội nữa. Quán Thế Âm Bồ-tát tay cầm nhành dương liễu đã rảy nước lên người con ba vòng. Khi con vừa chợt phát khởi lên ý gọi Ngài, thì ngay lúc ấy con đã tỉnh dậy”.
Câu chuyện này có thật , mới vừa xảy ra. Như vậy, tụng kinh Địa Tạng Bổn Nguyện có thể giải nạn, thì niệm Phật cũng được tiêu tai giải nạn… Cũng xin nói thêm là, người cháu có nhắc đến ông nội của anh ta đã cùng đến với Quán Thế Âm Bồ tát, đây chính là cụ Lâm Đạo Truyền đã vãng sinh lúc 11 giờ 20, ngày rằm tháng 2 năm Giáp-Thân (2004), nghĩa là trước đó không lâu. Cụ đã biết trước ngày ra đi ba tháng và âm thầm chuẩn bị tất cả những gói quà cùng tiền bạc chia phần cho từng người, nhưng việc vãng sinh thì chỉ báo cho người nhà biết trước khi ra đi 30 phút. Cụ nói cho người con trai trưởng biết rằng vào giờ phút đó A Di Đà Phật sẽ tới tiếp dẫn, rồi cụ an nhiên nằm theo thế kiết tường vãng sinh, hưởng thọ 101 tuổi.


LIỆU PHÁP TRỊ UNG THƯ CỦA BỆNH VIỆN HÀNG ĐẦU NƯỚC MĨ: ĂN CHAY !

Thân gởi quý bằng hữu, tôi nghĩ các bạn nên bỏ ra vài phút để đọc bài viết này và hãy chia sẻ nó cho người thân của bạn hay những người đang bị bệnh ung thư, vì đôi khi có người được cứu sống trong cơn tuyệt vọng vì bệnh tật như bạn của tôi và có thể lúc nào đó ta cần đến nó cho chính mình, bạn bè hoặc người thân.
Có thể câu chuyện tôi kể dưới đây nghe có vẻ khó tin đối với một số người nhưng nó hoàn toàn là sự thật.
Tôi có một người bạn thân, anh ta mắc chứng bệnh ung thư cuống phổi, cục bướu ác tính to bằng cái chén nằm ở cuống phổi. Bác sĩ nói về nhà ăn uống chờ chết chứ hết cách để chữa trị rồi, và không thể cắt bỏ vì nó nằm sát với động mạch chủ. Rồi tôi lại đến chơi hỏi thăm anh bạn, anh rất tuyệt vọng và anh cho tôi xem hình chụp X-Ray của cục bướu.
Thấy cơn tuyệt vọng của anh nên tôi có tặng anh bộ sách về nhân quả báo ứng để xem lúc rảnh rỗi. Rồi tình cờ anh đọc được một bài pháp về Thân bệnh, Tâm bệnh và Nghiệp bệnh.
Trong sách nói nhiều về Nghiệp bệnh và có đoạn như sau: “…ung thư phần nhiều là linh hồn của động vật sống bị người ta làm thịt và khi bạn hết phước và hội đủ nhân duyên thì nó sẽ hình thành tế bào ung thư để giết chết bạn” ( còn gọi là oan gia trái chủ)
Anh nghe như đang nói chính mình vậy vì hàng ngày anh thường sát sinh và ăn thịt động vật rất nhiều, và có lẽ bây giờ phước anh đã tận và hội đủ nhân duyên nên tế bào ung thư phát triển để giết chết anh, nghe vậy anh quyết định ăn chay từ đó vì ăn chay là cách tốt nhất để hạn chế ung thư và kéo dài thêm sự sống, nên anh ăn chay để chữa bệnh coi ra sao, có lẽ đây là cơ hội cuối cùng dành cho anh cũng nên.
Và anh ta đã chữa trị bệnh ung thư bằng phương pháp dưới đây: Anh không ăn đường, không ăn động vật (thịt, cá…) chỉ ăn và uống nước xay bằng rau, củ, hạt như đậu nành, củ cà rốt, củ cải, củ dền, cam, táo…
Sau ba tháng uống liên tục cục bướu to bằng cái chén thu nhỏ lại chỉ còn bằng cái khu chén, sau chín tháng bướu ung thư biến mất. Bây giờ anh ta khoẻ mạnh làm việc và ăn uống bình thường nhưng từ giờ anh chỉ muốn ăn chay mà thôi. Bốn người cùng chứng bệnh ung thư như anh ta ở bệnh viện chữa bằng phương pháp chemical therapy đã chết hết rồi.
Và chỉ một câu trong bài pháp mà đã cứu sống mạng của anh, liệu bạn có tin đây là sự thật không thì hãy đọc tiếp bài viết trích dẫn dưới đây. Còn tôi thì tin đó hoàn toàn là sự thật, vì bệnh của anh là nghiệp bệnh.
Anh cám ơn tôi vì đã tặng anh bộ sách quý ấy, nhưng tôi biết tôi không phải là người cứu anh, tôi chỉ là người gieo duyên, mà cũng do anh có duyên với Phật Pháp, Phật Pháp đã cứu sống anh và cho anh thêm cơ hội sống để sửa sai..!
Những chi tiết của bài viết dưới đây rất đúng, tế bào ung thư khi đã không được nuôi dưỡng bằng thịt (bò, gà…) đường, sữa…thì nó sẽ chết dần đi. Nên tôi muốn phổ biến tài liệu này cho mọi người cùng biết.
Đây là một tài liệu nói về bệnh Ung thư của Bệnh viện Johns Hopkins, trường đại học Baltimore, Maryland ở Hoa Kỳ. Bài viết rất ngắn, có nhiều điểm rất thú vị, quí vị đọc thử coi thấy sao?


TÀI LIỆU THẢO LUẬN CỦA CFQ

(Cercle Francophone à Quinhon) ngày 21/3/2013
(Xuân Phong dịch từ bản tiếng Pháp)

Một trong những bệnh viện nổi tiếng nhất trên thế giới thay đổi quan điểm của mình về bệnh ung thư. Bệnh viện Johns Hopkins là một bệnh viện trường đại học nằm ở Baltimore, Maryland ở Hoa Kỳ.
Được thành lập nhờ tài trợ từ John Hopkins, ngày hôm nay nó là một trong những bệnh viện nổi tiếng nhất trên thế giới và năm thứ 17 liên tiếp được phân loại ở vị trí đầu tiên trong bảng xếp hạng của các bệnh viện tốt nhất tại Hoa Kỳ.
Sau nhiều năm nói với mọi người hóa trị liệu là cách duy nhất để điều trị và loại bỏ ung thư, Bệnh viện Johns Hopkins đã bắt đầu nói với mọi người rằng có những lựa chọn thay thế khác với hóa trị liệu: một cách hiệu quả để chống lại ung thư là không nuôi các tế bào ung thư với các chất dinh dưỡng cần thiết cho nó để nó không phát triển được.
THỨC ĂN CỦA TẾ BÀO UNG THƯ LÀ THỊT, ĐƯỜNG VÀ SỮA
A/- ĐƯỜNG là một loại thực phẩm của bệnh ung thư. Không tiêu thụ đường là cắt bỏ một trong những nguồn quan trọng nhất của các tế bào ung thư. Có sản phẩm thay thế đường như saccharin, nhưng chúng được làm từ Aspartame và rất có hại. Tốt hơn nên thay thế đường bằng mật ong Manuka hay mật đường nhưng với số lượng nhỏ. Muối tinh luyện có chứa một hóa chất phụ gia để xuất hiện màu trắng. Một lựa chọn tốt hơn cho muối trắng là muối biển hoặc các loại muối thực vật.
B/- SỮA làm cho cơ thể sản xuất chất nhầy, đặc biệt là trong đường ruột. Tế bào ung thư ăn chất nhầy. Loại bỏ sữa và thay thế bằng sữa đậu nành, các tế bào ung thư không có gì để ăn, vì vậy nó sẽ chết.
C/- Các tế bào ung thư trưởng thành trong môi trường axit. Một chế độ ăn uống là THỊT có tính axit, tốt nhất là ăn rau, củ, quả, hạt thay vì các loại thịt như thịt bò, thịt heo, cá…. Hơn nữa, thịt chứa kháng sinh, hormon và ký sinh trùng, rất có hại, đặc biệt đối với những người mắc bệnh ung thư. Protein thịt khó tiêu hóa và đòi hỏi nhiều enzym. Thịt không tiêu hóa ở lại và hư hỏng trong cơ thể dẫn tới tạo ra các độc tố nhiều hơn.

GÓP PHẦN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
a) Một chế độ ăn uống gồm hơn 80% rau quả tươi và nước ép, ngũ cốc, hạt, các loại hạt quả, quả hạnh nhân và một ít loại trái cây đặt cơ thể trong môi trường kiềm. Chúng ta chỉ nên tiêu thụ 20% thực phẩm nấu chín, bao gồm cả đậu. Nước ép rau tươi cung cấp cho cơ thể co-enzyme có thể dễ dàng hấp thu và ngấm vào các tế bào 15 phút sau khi được tiêu thụ để nuôi dưỡng và giúp định hình các tế bào khỏe mạnh. Để có được các enzyme sống, giúp xây dựng các tế bào khỏe mạnh, chúng ta phải cố gắng uống nước ép rau (tất cả, bao gồm cỏ linh thảo) và ăn nhiều rau quả tươi 2 hoặc 3 lần mỗi ngày.
b) Không nên dùng CÀ PHÊ, TRÀ và SÔ CÔ LA có chứa nhiều caffeine. TRÀ XANH là một lựa chọn tốt hơn vì có chất chống ung thư. Tốt nhất là uống nước tinh khiết hoặc nước lọc để tránh các chất độc và kim loại nặng trong nước thường. Không uống nước cất vì nước này có chứa axit.
c) Các thành các tế bào ung thư được bao phủ bởi một loại protein rất cứng. Khi không ăn thịt, những thành tế bào phóng thích nhiều enzim hơn, tấn công các pro-tê-in của các tế bào ung thư và cho phép hệ thống miễn dịch tiêu diệt các tế bào ung thư.
d) Một số chất bổ sung giúp xây dựng lại hệ thống miễn dịch: Floressence, Essiac, chất chống oxy hóa, vitamin, khoáng chất, EPA, dầu cá … giúp các tế bào để chiến đấu và tiêu diệt các tế bào ung thư. Các chất bổ sung khác như vitamin E được biết đến bởi vì nó gây ra apoptose, cách bình thường của cơ thể để loại bỏ các tế bào vô dụng hoặc bị lỗi.
e) Ung thư là một căn bệnh của cơ thể, tâm trí và tinh thần. Một thái độ hoạt động và tích cực hơn sẽ giúp các bệnh nhân ung thư chiến đấu và sống còn. “Giận dữ và không hiểu biết, không tha thứ sẽ đặt cơ thể vào tình trạng căng thẳng và một môi trường axit”.
Học để có tâm hồn khả ái và yêu thương với một thái độ sống tích cực là rất có lợi cho sức khỏe.
f) Các tế bào ung thư không thể sống trong một môi trường dưỡng khí (oxygénée). Luyện tập thể dục hàng ngày, hít thở sâu giúp lấy thêm nhiều oxy vào các tế bào. Liệu pháp oxy là một yếu tố giúp tiêu diệt các tế bào ung thư.
g) Các hoá chất như dioxin gây ung thư, đặc biệt là ung thư vú. Dioxin rất có hại, đặc biệt là đối với các tế bào cơ thể.
Đừng để trong tủ lạnh chai nước nhựa bởi vì nhựa sẽ “đổ mồ hôi” dioxin và làm nhiễm độc nước uống.
Gần đây, Tiến sĩ Edward Fujimoto, Giám đốc chương trình Wellness ở bệnh viện Castle, xuất hiện trong một chương trình truyền hình giải thích sự nguy hiểm của dioxin.
Ông nói rằng chúng ta không nên đặt hộp nhựa trong microwave, đặc biệt là các loại thực phẩm có chứa chất béo. Ông nói rằng do sự kết hợp của chất béo và nhiệt lượng cao, nhựa sẽ truyền dioxin vào thực phẩm và do đó vào cơ thể chúng ta. Thay vào đó, bạn có thể sử dụng thủy tinh như Pyrex hoặc gốm sứ để đun nấu.


LẠY PHẬT DIỆT UNG THƯ
Triệu Lệ Bình
(Trích Nhân quả giải theo Phật giáo- sưu tầm & biên dịch: Hạnh Đoan)

Tôi ở huyện Bảo Thanh, tỉnh Hắc Long Giang, Trung Quốc, là một phụ nữ mắc bệnh ung bướu nan y.
Vào năm 37 tuổi, tôi bị bướu mật thời kỳ cuối. Mật của tôi hiện đã được cắt bỏ, nhưng do cắt bỏ mật vào giai đoạn bệnh đến thời kỳ cuối, nên tình trạng không ổn như lúc mới phát. Bởi vào thời kỳ cuối, những tế bào ung bướu đã phát tán khắp thân, nên dễ tái phát tràn lan. Sau khi cắt bỏ túi mật rồi, thì tử cung tôi lại mọc thêm ba ung bướu, tiếp đến buồng trứng bên trái sinh một bướu, chưa đầy nửa năm buồng trứng bên phải cũng có một bướu nữa. Tiếp theo là cổ họng lại sinh bướu, mọi người nghe tôi nói chuyện giọng khàn khàn.
Sức khoẻ tôi cực suy, không thể tiếp nhận những cuộc đại phẫu thuật, do vậy mà chẳng thể mổ tử cung, buồng trứng v.v… Riêng yết hầu tôi bị bướu, chỉ cần hả miệng dùng kính soi cũng thấy rõ, nhờ vậy mà bướu ở yết hầu đã cắt được. Hiện tại giọng nói vẫn còn khàn khàn. Sau đó bao tử cũng sinh bướu, trực tràng cũng bị bệnh, mọi người cho là bệnh trĩ, nhưng thực chất không đúng, nơi đó cũng bị ung bướu nốt.
Những thống khổ tôi phải chịu vẫn chưa hết, vì bệnh lại lan đến phổi, cực kỳ ác liệt: nửa phần trên phổi trái có tới 5 ung bướu. Tôi bị bệnh khổ hành hạ, giày vò… đến hôn mê bất tỉnh.
Tôi thường ho ra máu, máu lẫn đầy tạp chất lợn cợn, ho ra từng bụm, từng bụm máu. Tất cả bệnh này của tôi đều do ác nghiệp sát sinh tạo thành. Tôi chuyên bán các ngư cụ đánh bắt hải sản và buôn bán đủ loại thuỷ tộc cho mọi người dùng.
Tôi làm việc từ năm 1981, tuy hộ khẩu ở huyện Bảo Thanh, nhưng phạm vi buôn bán mở rộng đến khắp nơi, từ miền quê cho đến thành thị…
Khắp người tôi giờ mắc bệnh ung bướu thống khổ, thảy đều do sát nghiệp (sau này học Phật pháp rồi tôi mới hiểu).
Lúc chưa biết đạo, tôi đã phá thai hai lần, đây là đại ác nghiệp. Khi bệnh vật tôi ngã quị trên giường, nằm thở thoi thóp… Tôi nếm đủ mùi khổ, vì hễ phía trên vừa ho sù sụ, là phía dưới nước tiểu bắn ướt ra quần, do vậy mà tôi phải lót băng, bởi vừa ho là són tiểu ngay, hơn nữa còn bị các bệnh khác giày vò hành hạ, khổ hết chỗ nói.
Lúc này bác sĩ tuyên bố tôi chỉ còn sống được một tháng.
Tóc tôi bạc trắng hết, do dùng thuốc và trị hoá chất. Sau đó không thể hoá trị nữa, bởi tôi quá suy yếu hết tiếp nhận nổi. Do hoá trị một nửa diệt tế bào ung bướu, một nửa là diệt tế bào lành. Mà tình trạng sức khoẻ tôi như thế, không thể trị hoá chất tiếp được nữa. Tôi yếu đến không thể đi đứng, chỉ cần nói chuyện vài câu là chóng mặt muốn xỉu. Tôi không thể nói mà cũng không còn sức lực chi.
Sau đó, nghe con tôi kể có Hoà Thượng Thể Huệ đang tổ chức Phật thất, nghe đồn gia trì của Phật thất này rất mạnh… thế là tôi ngỏ ý muốn tham dự thử… Nhưng ông xã và mẹ chồng lẫn mẹ ruột tôi đều không cho đi. Nhất là mẹ ruột tôi, bà rất cưng tôi, khăng khăng tuyên bố thà để tôi nằm nhà trị bệnh mà chết, chứ nhất quyết không cho tôi đi vào con đường mê tín như vậy!… Bà bảo nếu tôi cứ liều lĩnh đi thì với tình trạng sức khoẻ suy như thế này, e rằng tôi chưa đến nơi thì đã… bỏ xác trên xe lửa !
Sau đó con trai tôi ra sức thuyết phục, nó thưa với mẹ tôi:
– Ngoại ơi, xin đừng ngăn cản mẹ cháu nữa, bà yêu con gái thì cháu cũng biết thương mẹ mình vậy?! Nếu cứ để mẹ cháu nằm nhà chờ chết… thì chi bằng hãy cho mẹ thoả nguyện, được toại ý đến với Phật pháp, làm cuộc thí nghiệm thử xem sao?…
Lúc đó bác sĩ tuyên bố với cả nhà tôi rằng:
– Mạng sống cô này chỉ còn một tháng nữa thôi, cô ấy thích ăn gì thì cứ cho ăn…
Mẫu thân không cho tôi đi, là vì muốn trong thời gian cuối cùng này, được bày tỏ hết lòng yêu thương dành cho con gái… Khi mẹ đòi rửa chân cho, tôi thực chẳng nỡ để mẹ làm vậy, nhưng vì muốn làm cho bà vui, tôi đành để mẹ tuỳ ý… (không muốn bà phải ôm áy náy sau khi tôi chết đi), vì vậy mà đành chìa chân ra cho mẹ rửa. Lúc mẹ rửa chân cho, tôi rơi nước mắt đầm đìa…
Khi mẹ đồng ý, chịu cho phép tôi đi thì con trai tôi (lúc đó là sinh viên theo học ở Viện nghiên cứu), liền xin nghỉ học, để hộ tống tôi đến Phật thất.
Phật thất tổ chức tại Bảo Lâm Thiền Tự ở Cẩm Châu ( Liêu Ninh), tôi khi đó bước đi không vững, nhờ có con trai và một bà bạn ở Hắc Long Giang, đồng phụ đỡ dìu, đưa tôi đi.
Đến Phật thất, hằng ngày tôi phải bái Phật tới ngàn lễ, tu toàn là niệm Phật, lễ Phật… Vậy mà kỳ tích xuất hiện.
Tại Phật thất, sư phụ dạy tôi: “Khi niệm Phật, gì cũng không được nghĩ đến, tâm không tạp loạn, chỉ chú tâm niệm Phật thôi”…
Rồi sư phụ dạy tôi lễ Phật, tôi thọ Bát quan trai giới, hành trì theo đoàn thể. Sau đó trong khoảng thời gian từ ba đến năm ngày, tôi rất mừng vì không còn ho nữa. Thấy tôi ngưng ho thì sư phụ bắt tôi lễ Phật, mỗi ngày phải lễ tới ngàn lạy, tôi đứng còn không vững thì nói gì đến lạy? Tôi nghĩ: “Vì sao sư phụ vẫn bắt con lễ Phật chứ?”… thế là tôi khóc, vì lễ không nổi nên tôi bật khóc…
Nhưng sư phụ vẫn không mềm lòng, ông cương quyết ép tôi phải lễ Phật! Dù lễ không nổi vẫn phải lễ! Nghĩa là có lễ được hay không, tôi vẫn phải lễ!
Tôi lễ Phật được một tuần thì sư phụ bèn đi thật nhanh quanh đạo tràng, tôi cũng phải “chạy” theo. Bởi vì tôi bệnh phổi, trong phổi ứ đầy tạp chất, không thông. Tôi không còn khí lực và nói chẳng ra hơi, vậy mà còn phải “chạy”, rất dễ bị ngạt thở chết… Tôi không dám chạy, nhưng sư phụ khuyến khích tôi, tôi bèn thí nghiệm chạy thử, bước từng bước thật nhanh. Ôi chao, từ từ tôi cảm thấy dễ chịu, thế là tôi yên tâm rảo bước theo sư phụ; lên lên xuống xuống, lòng rất vui.
Tiếp đến tuần thất thứ hai: phải leo núi. Sư phụ hướng dẫn tôi đi. Thấy ngài leo núi, tôi không dám lên theo, vì sợ mình sẽ chết. Bởi tôi biết rõ sức khoẻ của mình khó kham nổi, nhưng sau đó sư phụ đến dìu tôi và nói:
– Triệu Lệ Bình hãy ráng lên núi nhé!
Tôi nghĩ “ Phải nghe sư phụ thôi”, ngài dạy gì tôi đều vâng theo, thế là tôi ráng sức lên núi. Núi này cao, dốc đứng, đường toàn là dốc… tôi bò từng bước, lên được tới đỉnh tôi mừng đến lệ tuôn đầy mặt. Tôi đứng trên núi thầm nghĩ: “Thực là ngoài sức tưởng, không ngờ mình có thể leo lên và đứng được trên đỉnh núi”…
Lặng ngắm màu trời biêng biếc, cây cối xanh tươi, tôi cảm động vô hạn, vì chính Phật thất của sư phụ đã cứu vớt và ban cho tôi mạng sống lần thứ hai…
Sau đó tôi tham dự từng đợt, từng đợt Phật thất của sư phụ tổ chức, mãi cho đến hiện tại. Hồi đó khi tôi bệnh đầu tóc bạc hết hai phần, còn một phần thì ngả màu tro xám xịt. Nhưng tôi vẫn một bề theo sư phụ đả thất. Đến bây giờ khi các bạn đạo gặp lại tôi, họ đều suýt soa:
– Ôi chao! Tóc Lệ Bình đen lại rồi nè, hay thật đó nha!
Họ đứng trước tôi trầm trồ ngắm nghía và cứ khen mãi. Tôi thật là vui.
Trước đây ở nhà mỗi khi dùng bữa, tôi đều phải ăn cháo. Vì vậy khi đến dự Phật thất tôi rất lo, bởi ở đây toàn ăn cơm, tôi nghĩ “bao tử mình bệnh nặng như thế, làm sao ăn cơm được?”… Nhưng sau khi tôi theo dự Phật thất rồi, hiện nay nếp sinh hoạt chẳng hề khác người, tôi ăn dễ dàng, hơn nữa mặt mày khí sắc còn rất hồng hào, thật đó!
Bây giờ, khi theo mọi người nhiễu Phật, niệm Phật, tôi rất muốn niệm lớn tiếng. Hồi trước lúc mới tham dự, tôi niệm chẳng có hơi, khó thành tiếng, giờ đây tôi đã có thể niệm ra tiếng và còn niệm lớn…
Về các bệnh khác như ung bướu tử cung, buồng trứng v.v… hiện tại tôi chẳng thèm đi khám hay kiểm tra chi, tôi tự biết nó đã ổn, vì sao ư?
Tôi ba mươi mấy tuổi bắt đầu bị ung bướu, bặt kinh nguyệt đã ba năm… Trước đây bác sĩ từng nhắc tôi phải lưu ý:
– Hễ thấy có hiện tượng ra máu lần nữa, thì coi như tiêu ma!”
– Tại sao? -Tôi hỏi.
Ông đáp:
– Tử cung bà đầy bướu, nó mọc chen chúc dồn ép, nếu mà vỡ ra, ắt là đại xuất huyết, thì phải chết thôi! Lại thêm hai buồng trứng bà đều có bướu, cực kỳ xấu…
Sau khi tôi tham gia Phật thất của sư phụ, rồi dự các Phật thất kế tiếp nữa, thì đột nhiên trong thời gian này tôi cảm thấy bụng mình rất đau, đau dữ dội…
Xong Phật thất thì sư phụ quay về Đài Loan. Còn tôi thì về quê mình ở huyện Bảo Thanh, thầm nghĩ: “Nếu sư phụ mở Phật thất nữa thì tôi sẽ tham dự tiếp”…
Về nhà rồi, tôi bỗng thấy phần bụng của mình cực kỳ nóng. Như có luồng điện đang nung nấu và toả khí nóng khắp bụng dưới, khiến tôi cảm giác có chút đau. Tôi nghĩ thầm: “Vì sao lạ như vậy?” Tôi thấy tình cảnh mình có thể giống như lời bác sĩ từng cảnh báo là: “Mạng sống sẽ… tiêu ma, e xảy ra đại xuất huyết”… nên vội lao vào nhà vệ sinh, bỗng nghe hạ thể kêu “xoà” một tiếng lớn, rồi trong bụng có vật gì tuôn ào ra… tiếp theo là cảm giác thư thái dễ chịu… Khi tôi đứng dậy, nhìn vào bô, thấy toàn màu đỏ, trong có một khối hình tròn cỡ cái chén nhỏ, mặt bằng phẳng, nhưng xung quanh giống như hoa sáu cánh.
Sau đó, tôi chẳng biết bệnh tình mình tốt hay xấu liền đi bệnh viện siêu âm. Rốt cuộc là chuyện gì xảy ra đây?
Bác sĩ kiểm tra xong, bảo:
– Bệnh bà lành bệnh rồi, không sao hết.
Từ đó, tôi hồi phục như người bình thường. Chỉ còn bệnh phổi, nhưng tôi dứt khoát không đi khám trị gì nữa, bởi tôi nghĩ: “Đầu tóc mình đã đen lại, bệnh dù không lành hoàn toàn thì thể lực tôi cũng rất tốt, khoẻ như thế này là đủ rồi”.
Hiện giờ, tôi đã có thể làm việc, sinh hoạt bình thường như bao người.
Nhờ cơn bệnh khốc liệt này của tôi mà bố chồng, mẹ chồng, mẹ ruột, chú Út, thím Út, em trai, em gái… tất cả thân nhân từng chứng kiến cảnh tôi từ bệnh thoi thóp đến khoẻ an và bây giờ việc gì cũng có thể làm được thì ai nấy đều tán thán: “Phật pháp thực vi diệu, không thể nghĩ lường!”.
Không chỉ khen như vậy thôi đâu, mà tất cả bọn họ đều xúm nhau ăn chay niệm Phật hết ráo. Bố chồng tôi năm nay 81 tuổi, trước 1949 ông là nhà cách mạng lão thành, lập chiến công, huân chương nhiều, ông chỉ tin chủ tịch Mao thôi, ngoài ra không tin gì khác. Nhưng bây giờ tất cả đều làm giống nhau: quay sang ăn chay niệm Phật, tu tinh tấn.
Chú Hai (em chồng tôi) trước đây là chủ tiệm ăn Bảo Thanh nổi tiếng. Vì đây là nhà hàng bề thế nổi danh, ai cũng biết. Ngày nào cũng giết một số lượng vật rất lớn vì lúc nào cũng có người đặt tiệc ít nhất mười bàn, nên tiệm phải giết đủ thứ hải sản tươi sống gồm: cá, tôm cua, hải sâm v.v… nghĩa là sát sinh vô số, không thể đếm hết… và thu được rất nhiều tiền.
Nhưng thông qua cơn bạo bệnh của tôi, vợ chồng chú Hai cương quyết bỏ nghề. Họ chuyển đến Thông Hoa làm công cho người, triệt để từ bỏ nghiệp sát.
Từ khi chứng kiến cảnh trạng của tôi, không riêng gì người nhà tôi quay sang ăn chay niệm Phật mà kể cả các bạn khắp huyện Bảo Thanh, ai cũng đều tin sâu Phật pháp.
Tu hành chân chính là như thế
Tôi đặc biệt tri ân sư phụ, kể từ khi theo dự Phật thất của ngài, tôi thu được rất nhiều lợi ích. Không những thân được đại lợi, mà tâm cũng thăng hoa, tiến cao. Tôi học được rất nhiều điều hay từ ân sư.
Phật thất của sư phụ không những cứu mệnh tôi, mà còn giúp tôi noi theo đức hạnh cao cả của ngài (tôi nói đúng câu này, bởi tôi không phải là người tốt!). Lần đầu, khi nghe mọi người bảo:
– Có lão Hoà thượng Thể Huệ từ Đài Loan sang Đại Lục tổ chức Phật thất”…
Khi đó tôi chưa tin đạo, không hiểu gì về Phật giáo, nên rất ngạo mạn. Dù không biết rành về ngài, tôi vẫn mở miệng phỉ báng, đàm tiếu… Tôi dùng thành kiến vô thần của mình để đo lường, tưởng tượng xấu, rồi mặc tình phê phán, dè bĩu… Tôi chê:
– Vị sư này bất hảo đủ điều… không có chỗ nào được hết!…
Ngay khi viết những dòng này tôi rất ăn năn, chỉ muốn thốt to lên rằng: “Sư phụ! Con xin thành tâm sám hối với ngài!”…
Cho đến lúc tôi bị bệnh nặng nằm bên cửa tử, mới khởi tâm muốn đi dự Phật thất, vì nghe đồn sức gia trì từ Phật thất của ngài rất mạnh và linh! (tôi đi để cầu may thôi).
Những nghiệp ác tôi làm như sát sinh, phá thai, phỉ báng, gièm chê sau lưng ngài v.v… tất nhiên là sư phụ biết hết, ngài biết rất rõ nhưng vẫn luôn từ ái quan tâm chăm sóc một kẻ đại ác, đại sát sinh, đại khẩu nghiệp… như tôi!
Bất kể đi đâu, ăn gì, ngài đều để dành phần cho tôi và giải thích rằng:
– Triệu Lệ Bình bệnh hoạn suy yếu lắm, hãy đem cho cô ta dùng…
Tại Phật thất ngài cứu mạng tôi bằng cách giáo hoá vừa nghiêm khắc, vừa bao dung… và một kẻ ngạo mạn, vô thần như tôi đã bị đức hạnh cao tột của ngài cảm hoá, chiết phục… Sư phụ càng đối tốt, càng ưu ái thì tôi càng cảm thấy ăn năn xấu hổ, càng bội phục và tri ân…
Từ đó, tôi thành tâm dự các Phật thất của ngài liên tục gần ba năm. Tính ra sư phụ đã tổ chức hơn 50 Phật thất, trong suốt thời gian này, sư phụ không chỉ đối tốt với riêng mình tôi mà là với tất cả… Vì vậy mà tôi rất tôn kính ngài. Nên khi bệnh lành rồi tôi vẫn còn muốn học theo đức hạnh của ngài.
Lúc tôi ở Ngũ Đài Sơn, có gặp một cô bé khoảng 16 tuổi người Tây An, em mắc chứng bệnh hễ ăn vào là ói… Trước đây em vốn rất xinh đẹp, khả ái, thanh tú… Nhưng từ khi bị bệnh, em tăng cân vùn vụt, từ 45 kí thành 85 kí, phục phịch, mập phù. Em đi khắp nơi tìm thầy, do em là cô nhi, không cha mẹ, nên rất đáng thương.
Sư phụ cũng cho phép em đi theo ngài. Lúc đó tôi nghĩ: “Sư phụ, sao lại làm như thế, con bé này bị chứng nan y, ngài dẫn nó theo bên cạnh, lỡ như mà bệnh không khỏi, thì sẽ làm tổn thanh danh ngài!” Lúc đó tôi vì lo cho sư phụ nên nghĩ vậy, nhưng sư phụ chẳng hề quan tâm tới điều này.
Ngài bảo tôi:
– Lệ Bình! Con bé đáng thương quá! Con hãy xem nó như con và quan tâm chăm sóc nha!
Con bé đó một bề đi theo tham dự các Phật thất của sư phụ cho đến tận Ngũ Đài Sơn. Sau đó thì nó không theo nữa, vì bệnh đã hết. Nó phải về nhà làm việc.
Suốt thời gian theo sư phụ, tôi học được rất nhiều bài học quý giá từ đức hạnh của ngài. Những phẩm chất cao thượng mà thuở giờ tôi chưa từng chứng kiến qua. Cho nên dù bệnh lành rồi tôi vẫn tiếp tục tham dự Phật thất của sư phụ, tôi rất muốn học tập theo ngài. Trong lòng tôi ngài là một cao tăng đức hạnh cao tột, là vị đạo sư cực kỳ vĩ đại trên thế gian.
Ngài đã làm tôi khâm phục, cảm động đến rơi lệ. Càng theo sư phụ đả thất, tôi càng thấy đức hạnh sư phụ chói lọi, bởi vì trong cuộc sống thế tục này, tôi chưa từng gặp qua ai có phong cách như vậy, khi tiếp xúc với bậc chân tu mẫu mực như ngài, tôi mới biết thế nào là Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo…
Phụ thân tôi vốn là giảng sư cao học, mẹ tôi cũng là giáo sư đại học. Không những tôi tiếp thu đầy đủ tri thức của ba mẹ mà còn tốt nghiệp bằng cấp cao, nên những người tôi tiếp xúc đều là giới trí thức thượng đẳng. Con trai út tôi là sinh viên Viện Nghiên cứu Đại học Nông Lâm Vũ Hán… Có thể nói cả đời tôi toàn là tiếp xúc giao du cùng giới trí thức cao cấp thượng lưu, họ là những người mà tôi coi trọng. Bởi có câu: “Vạn ngành đều thấp, chỉ học thức là tối cao” (Vạn bang giai hạ phẩm, duy hữu độc thư cao). Đây là lời tuyên bố của cổ nhân.
Thế nên trong tâm, tôi luôn vọng hướng theo tôn chỉ này, thường nhìn và dõi theo “giới có học thức tối cao” để xem bản thân họ có thực sự có tư chất tác phong ưu mỹ tốt lành như cổ thánh tiên hằng ca ngợi hay không? Nhưng thú thật sau khi tiếp xúc với sư phụ rồi, tôi mới phát hiện: sư phụ cao tột sáng chói, vượt xa giới trí thức thượng lưu rất nhiều!
Thỉnh thoảng, những lúc đi kinh hành nhiễu quanh Phật, tôi thầm thú nhận:
-Bạch Thế Tôn! Bây giờ con đã hiểu và cảm ngộ triệt để câu: “Thập phương thế giới ngã tận kiến, nhất thiết vô hữu chư Phật giả!”(Con xem cùng khắp mười phương thế giới cũng không thấy ai tuyệt vời như Phật!). Chư Phật đúng là từ bi và cực kỳ vĩ đại vậy!


HIỆU LỰC KINH KIM CANG

Từ Quang
(Trích Nhân quả giải theo Phật giáo- sưu tầm & biên dịch: Hạnh Đoan)

Tác giả bài viết này là cư sĩ Từ Quang, cả nhà ông đều là những nhà khoa học lỗi lạc. Song thân ông là hai khoa học gia, đồng công tác tại Viện Khoa học Trung Quốc. Sau khi tác giả nghiên cứu Phật giáo, sinh cảm phục và phát tâm qui y Tam Bảo. Chính lòng hiếu thảo và tâm thành ứng dụng Phật pháp của ông đã cứu được mẹ ngay lúc một chân bà đã bước vào quỷ môn quan. Nhờ vậy mà cha mẹ ông hồi tâm, đồng bước vào con đường tu học theo Phật. Câu chuyện này hoàn toàn có thật và rất đáng tin. Mời quý vị xem bài văn tự thuật của ông:
“Tháng 02 năm 1989 tôi qui y Phật tại chùa Ngoạ Long ở Tây An ( Trung Quốc ) với Đại sư Trí Chân. Năm 1991 tôi đến nhậm chức và giảng dạy tại một Cao học nọ ở Bắc Kinh. Hơn 20 năm nay, tôi chuyên giảng dạy đào tạo người, vừa nghiên cứu khoa học vừa tu hành, tuy chưa đủ tinh tấn, nhưng trong sinh hoạt lẫn công tác đã hưởng được nhiều lợi ích thâm sâu.
Trước đây, những chuyện học Phật chiêu cảm ứng vô biên toàn là tôi được nghe các pháp lữ kể. Nhưng sau này thì chính tôi đích thân trải qua. Chuyện có thật này phát sinh ngay tại nhà tôi, kỳ lạ và huyền diệu không lường. Vì muốn báo ân chư Phật, Bồ Tát, tôi xin đem việc này thuật lại, mong chư vị Phật tử tăng trưởng thêm lòng tin chân chánh kiên định.
Đầu năm 2008, mẹ tôi bệnh tim và cao huyết áp nghiêm trọng, chưa đầy nửa năm đã bốn lần do tim đập nhanh, ngừng đột ngột mà bị hôn mê ngất xỉu.
Có lần ba tôi ra chợ mua đồ, mới rời mẹ tôi ra ngoài chừng nửa tiếng, thì khi về đã thấy bà té nằm trên đất, dập đầu chảy máu… rồi sau đó dù bà có tỉnh, nhưng không đủ sức bò dậy.
Lúc tôi đưa mẹ đến các bệnh viện lớn điều trị, mẹ tôi không còn sức để đi. Bác sĩ khám, thấy tim mẹ tôi đập nhanh, hay bị hồi hộp, hoảng loạn, mạch bị bế và nhảy bất thường.
Bác sĩ bảo: người già 85 tuổi mà mổ, sẽ nguy hiểm rất lớn, nếu không suy kiệt đến cùng thì cố gắng không phẫu thuật, vì vậy chỉ có thể dùng thuốc để xoa dịu bệnh tình thôi.
Đến năm 2009, mẹ tôi cứ cách một, hai ngày là phát bệnh, cơ hồ suốt đêm không ngủ được. Bác sĩ cho thuốc trị tim và cao huyết áp nhưng thảy đều vô hiệu. Thế nên tôi thật buồn khi nhìn cảnh mẹ tôi trị bệnh không hiệu quả. Những khi tiết trời thay đổi, bệnh bà càng trở nặng. Thậm chí đài khí tượng mới dự báo khí lạnh vừa đến Tân Cương là mẹ tôi đã cảm thấy khó chịu rồi. Thân thể bà suy cực điểm. Ban đêm tim thường bị ngừng đập hoặc nhảy loạn xạ, gây cho bà cảm giác hồi hộp khủng hoảng…
Thứ bảy cuối tháng 5/2009, tôi đến thôn Trung Quan thăm song thân. Cha tôi bảo:
– Khí trời mùa hạ oi bức, nung nấu như thế này, e rằng mẹ con không qua khỏi.
Không thể ngồi đó nhìn mẹ chờ chết, trong giây phút nguy cấp tôi nghĩ đến Phật pháp, và muốn ngầm tạo công đức cho mẫu thân. Lúc đó tôi mới thuộc “kinh Kim Cang”. Tôi biết công đức “kinh Kim Cang” vi diệu không thể nghĩ lường, nên quyết định tụng “kinh Kim Cang” hồi hướng công đức cho bà, cầu chư Phật Bồ tát gia hộ bệnh mẹ tôi chuyển tốt.
Thế là Chủ nhật tôi bắt đầu tụng, hằng ngày cứ 5 giờ sáng tôi thức dậy tụng một bộ “kinh Kim Cang”, tụng rồi thì hồi hướng hai nguyện:
1. Trước tiên là cầu cho oan gia trái chủ của mẫu thân. (Học Phật hơn 20 năm, tôi biết những bệnh chữa trị vô hiệu đều thuộc về nghiệp chướng, nhất định do oan gia trái chủ tìm đến đòi nợ, quấy nhiễu… Vì vậy rất cần hồi hướng cho những oan gia trái chủ mà mắt phàm không nhìn thấy này). Nội dung hồi hướng đại khái như sau:
“Tôi xin hồi hướng công đức tụng ‘kinh Kim Cang” này cho tất cả oan gia trái chủ của mẫu thân, xin chư vị oan gia trái chủ đừng hành hạ giày vò mẹ tôi nữa, tôi biết các vị rất khổ, mẹ tôi cũng khổ. Nhưng cứ quấy nhiễu thế này sẽ khiến đôi bên đều bị thiệt hại. Giờ đây tôi tụng kinh Kim Cang xin hồi hướng công đức cho chư vị, cầu chư vị tiêu nghiệp chướng, có thể ly khổ đắc lạc, thác sinh vào cõi lành, mong chư vị phát tâm qui y Tam Bảo, tin và nguyện niệm Phật, vãng sinh Tây Phương Cực Lạc Thế Giới”.
2. Sau đó tôi hồi hướng cho mẫu thân như sau:
“Nguyện mẹ con nghiệp chướng tiêu trừ, phúc huệ tăng trưởng, khang kiện trường thọ, phát tâm tin và nguyện niệm Phật, sau khi mãn báo thân này, vãng sinh Tây Phương Cực Lạc Thế Giới”.
Tôi tụng một tuần, xong bảy bộ “kinh Kim Cang”. Bởi lúc tụng vào khoảng 5 giờ sáng, sợ làm ảnh hưởng giấc ngủ người thân nên tôi chỉ tụng thầm, lúc tụng Văn hồi hướng cũng niệm thầm, trong tâm tưởng rõ ràng từng biến, chỉ là không đọc ra tiếng. Nhưng mà chuyện tụng “kinh Kim Cang” hồi hướng cho mẹ này, tôi tuyệt chẳng hé răng nói với mẹ hay bất kỳ ai hết.
Sau một tuần, tôi đi Trung Quan thăm song thân, khi tôi hỏi thăm bệnh tình của mẹ, phụ thân tôi tỏ vẻ hưng phấn nói:
– Thật may, cả tuần nay tim và huyết áp của mẹ con đều ổn cho nên hằng ngày bà ngủ rất ngon. Liên tục 7 ngày mà không phát bệnh, đây là việc chưa từng có gần một năm nay.
Nghe vậy tôi khấp khởi mừng, thầm đoán rằng chuyện mình tụng kinh cho mẹ đã có tác dụng…
Thế là tôi kể cho mọi người nghe sự tình, ai nghe xong cũng kinh ngạc, đồng cho là vi diệu không thể lường!
Sau đó mẹ mới khai ra chuyện bà giấu diếm bấy lâu, tôi nghe càng chấn động dữ. Mẹ tôi thổ lộ rằng trước đây bà sợ nói ra cả nhà sẽ không ai thèm tin nên đành im lặng.
Số là gần một năm nay, tối nào bà cũng bị huyết áp tăng cao, tim mệt cực kỳ, ngủ không được, hơn nữa còn luôn nhìn thấy có người đi qua lại trong nhà. Mẹ tôi nhấn mạnh là bà không hề nằm mơ, vẫn hoàn toàn tỉnh táo, vậy mà luôn nhìn thấy đám người đó! Tôi hơi hoảng, hỏi liền:
– Họ ra sao?
Mẹ đáp:
– Họ có đủ nam nữ, tuổi tương đối lớn…
– Thế hình dáng thế nào?
– Đa số mẹ không nhìn rõ mặt mày. Không chỉ có vậy, vào nửa khuya mẹ còn nghe tiếng phụ nữ khóc lóc. Có lần còn bị một ông to lớn cường tráng, tướng mạo hung dữ nhào đến chụp cánh tay mẹ, mẹ giằng lại, thoát ra…
Mẹ giải thích:
– Bởi vì sợ thấy đám người này nên mỗi tối ngủ mẹ đều không dám quay mặt ra ngoài. Nhưng dù có nằm quay vô vách, thì lần nọ, trước mặt mẹ chưa đầy 30cm bỗng xuất hiện một kẻ vừa già, vừa xấu, cực kỳ dơ bẩn hôi tanh… đến nỗi mẹ phải nôn thốc nôn tháo, ói mửa liên hồi, rồi kẻ quái dị đó mới biến mất.
Trước 1949 mẹ tôi tốt nghiệp đại học, hồi chưa nghỉ hưu từng là nhân viên “Viện Nghiên cứu Khoa học cao cấp Trung Quốc”, bà làm việc tại Thôn Trung Quan, do bản thân là dân trí thức cấp cao lại có bề dày công tác mấy mươi năm tại Viện Khoa học, bà đâu bao giờ tiếp xúc với những gì được xếp loại là mê tín? Tất nhiên chẳng thể nào chấp nhận được các hiện tượng (bao gồm người và vật) thuộc lãnh vực này, bà không bao giờ tin là có quỷ thần! Nhưng lần này, oái ăm thay! Chính bà lại đích thân diện kiến quỷ khi còn đang sống, lại không phải do ảo giác mà thấy, điều này khiến mẹ tôi dù không muốn, cũng phải tin!
Tôi hỏi:
– Sao mẹ không nói sớm cho con biết? Mẹ không hiểu chuyện này rất nguy hiểm và đáng sợ hay sao? Điểm đáng sợ chính là, khi đó một chân mẹ đã bước vào quỷ môn quan rồi!
Tôi giải thích cho mẹ rõ:
– Trong lục đạo, thì Nhân đạo, Súc sinh đạo và Quỷ đạo… cả ba cõi này đồng sống trong một không gian. Cõi súc sinh chúng ta có thể nhìn thấy, nhưng cõi quỷ thuộc âm tính, vì vậy mà con người bình thường nhờ dương khí thịnh hơn nên những chúng sinh cõi quỷ không cách chi tiếp cận được, bởi vậy mà ta không thấy họ.
Thế nhưng các oan gia trái chủ đã qua đời hiện đoạ trong Quỷ đạo luôn chực sẵn, đợi lúc con người bệnh nặng hoặc sắp chết, khí âm thịnh và dương suy, thì chúng lập tức đến tiếp cận để đòi nợ, hành hạ, báo thù… Vì vậy ngay giây phút mẹ nhìn thấy chúng sinh cõi Quỷ tức là một chân đã bước vào cõi chết rồi, nếu mẹ chịu báo sớm cho con hay mọi điều, thì con có thể làm Phật sự để giải cứu mẹ sớm hơn…
Mẹ nói:
– Nhưng khoảng một tuần nay mẹ không còn thấy quỷ nữa (chính là bắt đầu từ hôm tôi tụng kinh hồi hướng công đức cho mẹ và oan gia trái chủ của bà thì ngay tối đó chúng quỷ đã biến mất hết, suốt cả tuần không đến quấy rầy nữa).
Trọn cả nửa năm sau đó, tôi một bề tụng “kinh Kim Cang” hồi hướng cho song thân, tụng khoảng 100 bộ. Kể từ chủ nhật mùa hạ năm 2009 trở về sau, bệnh tim và chứng cao huyết áp của mẹ tôi đã chuyển tốt, mỗi ngày uống thuốc một lần, lượng thuốc cũng giảm đi phân nửa, ít hơn bình thường.
Song thân tôi thuộc giới trí thức, họ tốt nghiệp đại học trước 1949, cùng là nhà khoa học ưu tú, công tác tại Viện Khoa học cao cấp nên thuyết phục họ tin Phật rất khó.
Tôi học Phật đã hơn hai mươi năm, một bề tuyên dương Phật pháp cho song thân hiểu, nhưng gia phụ một mực bán tin bán nghi, còn mẹ thì dứt khoát không tin.
Nhưng kể từ lúc tôi tụng “kinh Kim Cang” cầu cho mẹ, chiêu được cảm ứng vi diệu, chính việc này đã khiến hai nhà khoa học gia cứng cỏi của tôi chấn động và cảm kích, lần này thì hai vị hoàn toàn tâm phục khẩu phục, bắt đầu tin Phật giáo và phát tâm niệm Phật cầu sinh Tây Phương.
Mẹ tôi năm nay 88 tuổi, hằng ngày, mỗi sáng, tối bà đều bỏ ra một tiếng đi tản bộ, vừa đi vừa niệm Phật, tinh thần và sức khoẻ sung mãn, so với nửa năm trước giống như là hai người khác nhau vậy.
Gia phụ cũng 88 tuổi, hàng ngày ông kinh hành niệm Phật hơn hai tiếng.Tôi còn mua một máy niệm Phật, cho mở ở nhà suốt 24 giờ, hỗ trợ song thân nhiếp tâm mạnh thêm.
Chuyện cảm ứng của tôi, nếu nhận xét theo khoa học vẫn hội đủ điều kiện để chứng minh:
Rõ ràng là, suốt tuần lễ tôi tụng ‘kinh Kim Cang’ cầu cho mẹ, tôi không hề thổ lộ điều này cho song thân hoặc bất kỳ ai biết, và ngay trong thời gian tụng kinh tôi cũng hoàn toàn không hay biết gì về chuyện bí ẩn của mẹ. Vì vậy khi mọi sự được hoá giải êm đẹp, chẳng thể kết luận rằng tất cả đều do tôi “tự kỷ ám thị” hoặc “ảo giác” tạo thành. Do vậy mà tôi hoàn toàn xác tín công đức ‘kinh Kim Cang’ quả thực mầu nhiệm không thể nghĩ lường!”


GIẢM CHỨNG LOÉT MÀNG NHĨ NHỜ
PHÓNG SINH

Từ Long
(Trích Nhân quả báo ứng, những điều mắt thấy tai nghe_ Tịnh Tùng)

Tôi có một người bạn tên là Chu Kiến Hạo, năm anh ấy bắt đầu vào đại học kiến trúc, thì cảm thấy lỗ tai mình rất khó chịu, sau đó bắt đầu điếc dần, đi khám mới biết màng nhĩ bị loét, lúc này chỉ còn nghe rất nhỏ, mỗi khi muốn nghe ai nói gì, thì anh phải lại sát bên họ, lấy tay bịt lỗ tai bị loét lại, mới nghe được.
Anh ta quyết định chọn cách phóng sinh cầu cho lành bệnh, nên hàng tháng thường ra chợ mua các con vật sắp bị giết mổ để phóng sinh. Sau này tôi dạy anh, muốn phóng sinh thì nên y theo theo Nghi phóng sinh mà làm, công đức sẽ lớn hơn bội lần. Không lâu sau, trước khi tốt nghiệp, kỳ tích xuất hiện, tự nhiên bệnh loét màng nhĩ của anh được khỏi, tai anh nghe được một cách bình thường mà chẳng thuốc thang gì cả.
Nếu chúng ta chỉ phóng sinh không thôi, thì cũng được phước báo đó, nhưng đối với con vật thì chúng không được lợi ích lớn, do nghiệp lực nên đời sau rất có thể chúng đầu thai làm súc sinh trở lại; nhưng nếu chúng ta y theo “Nghi Thức Phóng Sinh” mà phóng sinh, như trước khi phóng sinh nên quy y cho chúng, khai thị, niệm “ Nam Mô A Di Đà Phật ” 108 lần cho chúng nghe, chắc chắn đời sau chúng sẽ được đầu thai làm người hoặc vãng sinh Cực Lạc, nhờ nhân duyên quy y, nghe được Phật hiệu hôm nay, đời sau chúng sẽ biết tu tập và giải thoát khỏi lục đạo luân hồi, vì thế công đức của chúng ta thật vô lượng.

Sau đây là nghi thức phóng sinh :

NGHI THỨC PHÓNG SINH

NGHI THỨC PHÓNG SINH

 


BA TRĂM LẺ BA MẠNG

Tôi họ Đặng, là một bác sĩ trị liệu tâm lí, trong chuyên khoa của tôi có một phương pháp gọi là thôi miên trị liệu. Trong quá trình điều trị cho các bệnh nhân, tôi, cũng như rất nhiều bác sĩ khác (nổi tiếng nhất có lẽ là tiến sĩ Brian Weiis ở Hoa Kì) đã phát hiện ra cách thức thôi miên để cho bệnh nhân nhớ lại các kiếp quá khứ, và nhờ phương pháp này, rất nhiều bệnh nhân đã khỏi bệnh một cách rất đáng kinh ngạc.
Hôm qua, một cô gái từ Đông Hoan gọi điện thoại tới, ngỏ ý muốn được thôi miên và hỏi ngày nào rảnh? Tôi hẹn cô tuần sau.
Nghe vậy cô tỏ vẻ rất sốt ruột, nói:
– Không được, ông Đặng ôi, xin hãy làm ơn… ông có thể giúp cho tôi sớm hơn không?
Nghe giọng nói gấp gáp của cô, tôi đoán chắc cô có chuyện gì cần lắm, bèn hẹn cô ngày mai.
Hôm nay, mới hơn 9 giờ sáng, cô đã đến. Đó là một cô gái 29 tuổi, chưa kết hôn.
Cô kể mình họ Thẩm, tôi tưởng cô có gì cấp bách mới cần thôi miên gấp, hóa ra là do cô tò mò chỉ muốn biết tiền kiếp mà thôi.
Cô Thẩm là người thật thà chất phác, lớn lên ở miền quê, cha mẹ đều là nông dân. Cô có một em trai và một chị. Trong mắt mọi người ai cũng tưởng cô có tuổi thơ hạnh phúc, nhưng không phải vậy. Ngay từ nhỏ cô đã bị xem là đứa bé ngu ngốc, vì 8 tuổi mới đi học nhưng cô không thể viết chữ. Do vậy mà cha mẹ không thương, gia đình thường xảy ra nhiều chuyện khiến cô đau lòng.
Cô còn bị bệnh viêm gan lâu năm, trước đây gan hay bị đau. Cô có trí nhớ cực tồi, cô đã đến chùa làm công quả hai năm, được mọi người dạy niệm câu: “Nam Mô A Di Đà Phật”, nhưng cô không nhớ nổi. Ngực cô thường đau, luôn có cảm giác khó thở. Ngón tay út và áp út bên phải bị đơ cứng, khiến nhiều lúc cầm đũa cũng không được. Từ nhỏ cô hay bị ảo thính, tức là thường nghe có tiếng người nói bên tai…
Tôi hỏi cô vài câu đơn giản xong, thì bắt đầu giúp cô vào cuộc viễn du thám thính tiền kiếp…
Đầu tiên, tôi dẫn dụ theo phương thức thông thường, nhưng thấy cô không có chút phản ứng gì. Chả lẽ cô thực sự quá ngu độn ư? Xem tướng cô thấy cũng không đến nỗi tối tăm lắm, có vẻ là người thật thà. Do cô không thông minh lanh lợi, nên tôi đành hướng dẫn từ từ để khơi lại ký ức tiền kiếp của cô.
Khi tôi bảo: Cô hãy nhớ về năm lớp 10! Thì cô mô tả mình thấy cảnh một bạn gái cùng lớp đang trò chuyện yêu đương tình tứ với một thanh niên, cô bèn chỉ cho một nữ sinh khác nhìn, thế là cô nữ sinh này liền đem chuyện ấy mách với nữ giáo sư, cô giáo bèn xử phạt nữ sinh kia, khiến cô ta xấy hổ bỏ nhà ra đi và bị người lường gạt đem bán đến một nơi rất xa, may là cô ta lanh trí chạy trốn được, nên không bị xâm hại. Khi cô Thẩm thấy đến đây, thì lộ vẻ rất hối hận, cô bật khóc, lệ tuôn đầm đìa ….
Lần thôi miên đầu kết thúc, cô bảo ngực mình đã cảm thấy dễ thở rất nhiều, nhưng hình như vẫn còn chút gì đó ngăn trệ bên trong.
Khi tôi bắt đầu cuộc thôi miên lần hai, chuyện ngoài sức tưởng phát sinh.
Cô Thẩm nói: Hình như có gì đang ở trong ngực, trong não tôi!
Tôi liền hướng dẫn tiếp tục, thì đột nhiên cô nói bằng giọng đàn ông, nghe rất hung ác. ( Đây là do các oan gia trái chủ nhập vào )
Tôi vội hỏi:
– Ông là ai?
– TA LÀ KẺ BỊ TÊN NÀY SÁT HẠI!
– Giờ ông muốn thế nào?
– TA MUỐN NÓ CHẾT! QUYẾT KHÔNG THA!
Giọng nam thốt ra với vẻ vô cùng hung ác. Tôi ngẩn ngơ. Vậy rốt cuộc là chuyện gì nữa đây? Dần dần tôi hỏi chi tiết mọi chuyện, mới hiểu ra:
Sự việc phát sinh vào đời Tống. Lúc đó cô Thẩm là một ông quan hơn 40 tuổi (tạm gọi là ông Khánh cho độc giả dễ phân biệt). Trong cơn thôi miên hiện thời, cô Thẩm (tức là ông Khánh) với vẻ cực kì tức giận và nói bằng giọng đàn ông đầy phẫn nộ xung thiên:
– Đáng hận quá, ta muốn giết tên Khang!
– Vì sao muốn giết?
– Hắn rất đáng chết vì dám khởi ý phản bội, mưu tính … lấy đầu ta!
Té ra tên Khang là quan thuộc hạ trong triều, đang âm thầm liên kết với nhiều người để làm hại ông Khánh.
Do đã biết trước, nên một ngày nọ ông Khánh dẫn theo nhiều binh sĩ, xông vào nhà Khang, giết sạch toàn gia trang ba trăm lẻ ba người, riêng quan thuộc hạ Khang bị ông Khánh đâm trúng tim mà chết. Còn hai người nữa cũng bị chặt đầu mà chết. Vì vậy kẻ gá vào ngực hành hạ cô Thẩm chính là Khang (do hắn bị đâm trúng tim mà chết, nên bây giờ trả thù bằng cách hành đau nơi ngực) còn hai vong bị chặt đầu thì gá vào não cô. Riêng ba trăm người kia thì một số gá vào đầu, số thì gá vào tay phải (vì lúc tàn sát họ, cô cầm gươm bên tay phải).
Cô Thẩm đến 8 tuổi mới đi học, nhưng không thể viết chữ, trí óc không thông minh linh họat, tim thường bị đau.. là do có liên quan đến vụ “Đại thảm sát ba trăm lẻ ba mạng” này…
Sau khi thôi miên kết thúc, tôi bảo cô Thẩm:
– Hồi nhỏ không phải cô ngu ngốc hay đần độn gì cả!
Cô nói cô cũng biết rõ mình không có ngốc, nhưng hễ muốn viết chữ, thì tay cứng đơ không nghe theo, giống như cố ý chống lại cô vậy. Hơn nữa trong não cô luôn lộn xộn rối ren, nên không thể nhớ được gì.
Đối diện với hơn ba trăm mạng còn ôm đầy hận oán, tôi chỉ có thể hướng dẫn, điều đình … xin họ hóa giải… Tôi khuyên cô Thẩm hãy nhận lỗi, sám hối.
Thế nhưng chỉ có một số ít vong linh chịu tiếp nhận, còn đa số khăng khăng ôm oán, cương quyết không tha thứ, nhất định đòi báo thù…Tôi nhắc họ: Đây là nhân quả, cái gì cũng có nguyên nhân đầu tiên. Do họ không phục nên tôi đành phải thôi miên cô Thẩm tiếp, dẫn dụ cô đi sâu vào kiếp trước đó nữa, để tìm cho ra nguyên nhân đầu tiên, hầu có thể giúp hai bên hóa giải hận thù…
Lần này cô Thẩm kể:
Kiếp đó vào triều Đường, cô là một phú ông họ Trương khoảng ba mươi mấy tuổi, rất giàu, có đông người hầu hạ.
Thình lình một hôm nọ, có ba người bịt mặt, dẫn theo mấy chục người, tay cầm vũ khí xông vào dinh thự của Trương phú gia để cướp, nhưng ông Trương cương quyết chẳng nộp tiền cho chúng, nên cuối cùng không những ông bị bọn cướp giết chết, mà toàn gia ông (hơn trăm người) cũng bị chúng giết sạch để diệt khẩu.
Khi cô Thẩm nhớ đến đây thì lộ vẻ vô cùng sợ hãi, toàn thân run rẩy, cất tiếng van xin như thể đang là Trương Phú gia:
– Xin đừng giết tôi! Đừng giết tôi!
Thế nhưng tên đầu đảng bịt mặt vẫn giết chết ông, hắn ra tay độc ác: Đâm một đao vào tim ông Trương.
Cô Thẩm nói, mặc dù họ bịt mặt, nhưng cô vẫn nhận ra tên đầu đảng giết mình chính là kẻ từng làm công cho mình trong kiếp đó. Do thấy hắn làm việc quá tệ nên Trương phú hộ không hài lòng, đã đuổi cổ hắn, vì vậy mà hắn ôm hận, kết bè đảng, rủ nhau đi cướp của ông.
Ngay giây phút cô Thẩm nhớ lại tiền kiếp kia, thì trong số ba trăm oan quỷ kia, rất nhiều oan quỷ cũng đồng thời nhận ra được họ từng là những kẻ cướp gian ác… nên không còn ôm lòng oán hận nữa! Có thể do lúc cô Thẩm nhớ lại tiền kiếp ở triều Đường, thì bọn oan quỷ cũng nhìn thấy và nhận ra lỗi lầm của mình, cho nên không cần tôi phải khuyên gì nữa, tất cả bọn họ đều đồng ý hòa giải, buông hết hận thù…
Sau đó, tôi kể cho họ nghe về thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà, về hạnh nguyện từ bi của Ngài, tôi miêu tả quốc độ này rất thù thắng trang nghiêm và khuyên họ hãy niệm Phật cầu sinh Tây Phương. Bọn họ rất hoan hỉ tiếp thọ…
Cuối cùng tôi hướng dẫn họ đồng niệm: “Nam Mô A Di Đà Phật”… theo tôi! Ngay trong lúc Phật hiệu vang vọng, cô Thẩm bảo tôi, cô thấy rõ bọn họ xếp thành hàng, từng người, từng người đứng trên hoa sen, theo Phật A Di Đà, Bồ Tát Quan Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí và dần dần biến mất giữa không trung.
Khi cuộc thôi miên kết thúc, cô Thẩm bảo toàn thân cô nhẹ nhõm, đầu óc tỉnh táo hẳn.
Nhân quả báo ứng không sai mảy may, oan oan tương báo, không bao giờ dứt, hơn nữa càng báo oán, thù càng sâu nặng. Mới đầu là giết hơn trăm người, đến lúc báo thù thì thành ba trăm lẻ ba người.
Chỉ có buông bỏ oán thù, chân thành sám hối…mới mong thoát khỏi cảnh ngang trái, đau khổ bất tận này.
Trong sinh hoạt thường nhật, cần đem hết tâm thành đối đãi bình đẳng với tất cả, như vậy thì oán kết đời trước tự nhiên sẽ được tháo gỡ.
Giáo sư Đặng

Lạm bàn:
Nhiều người luôn cho rằng, mình ăn hiền ở lành, chẳng hại ai bao giờ, nên phải chịu quả báo đau khổ là điều bất công. Thế nhưng người đó không hiểu được rằng, có rất nhiều loại tội lớn nhỏ ta thường phạm trong đời, ta không giết người nhưng ta giết rất nhiều súc sinh, ta không phạm tội tà dâm với vợ người khác, nhưng tâm ta thường khởi ý nghĩ dâm tà, miệng ta thường nói lời dâm ô, v.v… rất nhiều loại tội lỗi khác nhau, nhất nhất đều có quả báo.
Và quan trọng hơn, đó là bệnh tật, khổ đau hiện tại là do nghiệp của nhiều kiếp trước dồn lại, do oan gia trái chủ kiếp xưa vẫn đeo theo báo thù, đòi nợ, giống như cô Thẩm trong câu chuyện trên.
Cô ta bị bệnh là do ba trăm lẻ ba oan gia kiếp trước đến đòi nợ máu, nhưng nếu không có người thôi miên cho nhớ lại tiền kiếp, thì ai cũng sẽ nghĩ là cô ấy vô tội, mà thực tình thì không phải thế. Rất nhiều người cũng bị như vậy, nhưng không phải ai cũng gặp được một người giúp cho nhớ tiền kiếp mà biết được.
Vậy nếu như ta không thể tìm được ai biết được tiền kiếp của ta, thì không có cách nào giải quyết được sao ?
Rất may là vẫn giải quyết được. Cho dù ta không biết oan gia trái chủ của ta đến từ kiếp này hay kiếp xưa, là người hay là súc sinh, ân oán như thế nào… nhưng nếu ta sám hối với họ, cầu siêu cho họ, thì họ dần dần sẽ tha thứ cho ta, và bệnh tình sẽ tự bình phục. Nghi thức Sám hối – cầu siêu oan gia nằm trong Phụ Lục ở cuối sách, bạn có thể mở ra và thực hành luôn.
Có điều, oan gia có rất nhiều tâm tính khác nhau, có oan gia dễ buông bỏ, có oan gia ôm chặt lòng hận thù, quyết “ rửa hận” đến cùng. Nên khi sám hối – cầu siêu cho oan gia, ta cần phải kiên trì, nếu sám hối – cầu siêu một hai lần chưa hết, ta cứ tiếp tục mười lần, hai mươi lần… chắc chắn rồi họ cũng sẽ tha thứ, cũng sẽ siêu hết.

 

SÁM HỐI PHÁT NGUYỆN, BỆNH TẬT ĐƯỢC MAU LÀNH

(Theo lời kể của Trịnh Minh Hiền – Trích ‘Nhân quả báo ứng, những điều mắt thấy tai nghe’_ Tịnh Tùng)

Mẹ tôi là Trịnh Cao Hạnh Thái, năm nay 88 tuổi, tuy chưa từng học qua trường lớp nào cả, nhưng bản tính nhân từ, tâm địa lương thiện, rất thích bố thí, được mọi người trong làng đều ngợi khen, yêu mến. Mẹ sinh vào những năm cuối thế kỷ XIX, theo quan niệm phong kiến người phụ nữ bị coi là “ nữ gia ngoại tộc”, nên không được đi học, vì mọi người cho rằng con gái dù có học nhiều như thế nào đi chăng nữa cuối cùng cũng về làm dâu người khác mà thôi, bởi không biết chữ, nên mẹ không thể xem kinh sách, vì vậy đối với tôn giáo bà không có chút xíu nhận thức nào cả, nhưng đối với chư Phật, Bồ-tát cho đến thần linh bà đặc biệt kính trọng. Do đó, bà thường tiếp xúc với các thiện nam tín nữ, nhờ họ hướng dẫn, vì vậy trong suốt năm 45 tuổi bà chuyên tâm học thuộc lòng “Chú Đại Bi” và “kinh A Di Đà”, từ đó ngày đêm bà chuyên trì tụng, không có gián đoạn, vả lại bà còn phát nguyện ăn chay trường.
Những năm trở lại đây, do bà tuổi cao sức yếu nên rất dễ bị cảm, năm nay tình trạng bệnh tình càng thêm xấu đi, thân thể đau nhức, ê ẩm, ngoài ngồi nằm ra bà không làm được bất cứ việc gì khác, càng ngày bà càng ít nói, có khi không mở miệng ra được, cho đến ăn, uống, đại tiểu tiện cũng phải nhờ con, cháu giúp đỡ. Sức khoẻ của bà xuống hẳn, lại còn nôn ra máu. Mỗi lần nghe mẹ rên, nghe mẹ than đau, lòng chúng tôi như dao cắt, muối xát. Những lần như vậy, chúng tôi không biết làm gì cả, chỉ có cách duy nhất là đưa bà vào bệnh viện, những vị bác sĩ tư, sau khám xong đều lắc đầu, chúng tôi lại đưa mẹ đến bệnh viện lớn, ngoài lấy máu xét nghiệm ra, họ còn ba lần dùng ống soi dạ dày, hai lần dùng ống soi ruột, nhưng vẫn không tìm được nguyên nhân nôn ra máu (các bạn biết dùng ống soi vào dạ dày làm cho người bệnh rất đau đớn, huống gì ở đây mẹ tôi bị soi đến năm lần). Phía bệnh viện, ngoài việc lấy máu xét nghiệm ra, họ chỉ có cho uống thuốc giảm đau, chứ không thấy chữa trị gì hết. Cuối cùng, không có cách nào khả thi hơn, các bác sĩ bèn lấy dịch tuỷ xương sống của mẹ để kiểm nghiệm. Tôi không ngờ qua trình lấy tuỷ khiến bà đau đớn như vậy, nhìn thấy bà nhăn mặt, nẩy người lên, lòng tôi như lửa đốt, tay tôi giữ bà mà mặt quay đi không dám nhìn. Lúc đó tôi chỉ có mặc niệm “Chú Đại Bi”, cầu Bồ-tát từ bi cứu mẹ, khi tôi niệm gần xong thì trong tâm tôi vô cùng mâu thuẫn, sự mâu thuẫn đó chẳng có thứ ngôn ngữ, văn tự nào có thể hình dung được trong muôn một.
Trong suốt hơn 40 ngày nằm ở bệnh viện, tiêu tốn gần 2 vạn đồng tiền thuốc, dù các bác sĩ nỗ lực hết sức, mà bệnh tình của mẹ tôi vẫn không thấy khởi sắc chút nào cả, cuối cùng chúng tôi quyết định đưa mẹ về nhà. Vừa về đến nhà, mấy người em dâu của tôi cho rằng do mẹ ăn chay không đủ chất nên bệnh tình mới nghiêm trọng như vậy, chúng bèn lén đi mua xương, cá về bồi bổ cho bà, không ngờ lòng hiếu thảo của mấy người em dâu tôi lại hại bà. Do mẹ tôi ăn chay quá lâu, nên vừa ăn thịt, cá vào thì bệnh tình bỗng trầm trọng thêm, tức khắc khuôn mặt bà chuyển thành màu đen, khiến cho ai nấy đều kinh hãi. Thấy tình hình như vậy, sợ rằng mẹ không qua khỏi tiết thanh minh, vì vậy tôi thỉnh các vị thiện nam tín nữ đến trợ niệm cho bà.
Tạm an ủi cho tôi đó là phần lớn con cháu nhà họ Trịnh đều tin Phật, lúc mẹ tôi được đưa về nhà, thằng con trai trưởng của tôi là Trịnh Chí Kiên mỗi ngày đều phát tâm tụng “kinh Kim Cang”, thằng cháu của tôi là Trịnh Hoàng Hà mới 13 tuổi cũng phát tâm mỗi ngày lễ Phật 100 lạy, nguyện đem công đức này hồi hướng cho bà, còn tôi mỗi ngày đều trì “Chú Đại Bi”, tụng “kinh Địa Tạng” hoặc “kinh Dược Sư”, tôi cũng đem công đức này hồi hướng cho mẹ cùng tất cả oan gia trái chủ nhiều đời nhiều kiếp của bà được xoá bỏ hận thù, siêu sinh Tịnh Độ.
Trước tiết thanh minh mấy ngày, lúc tôi đang tụng kinh, lễ Phật ở Phật đường, không ngờ mẹ tôi dùng hết sức lực tự mình đến trước tượng Phật lễ bái sám hối, lại còn thành tâm phát nguyện: “Dù cho thân này có tan thành tro bụi, quyết không bao giờ ăn thịt chúng sinh…”
Kỳ tích xuất hiện thật không thể nghĩ bàn. Sau hai ngày lễ Phật sám hối, bệnh tình mấy tháng nay của mẹ tôi được dứt hẳn. Theo lời bác sĩ, muốn mẹ tôi có thể đi được thì phải làm một cái áo bằng sắt để quấn quanh người bà, chúng tôi đã chuẩn bị mấy ngàn đồng định đi làm, nhưng bây giờ thì nó được dư ra.

Mẹ tôi bắt đầu nói năng, đi đứng lại bình thường, cho đến ăn cơm, tắm rửa, cùng các nhu yếu khác đều tự mình làm cả, vả lại còn nhanh nhẹn hơn xưa, được như vậy là do đâu? Chẳng phải do năng lực không thể nghĩ bàn của chư Phật, chư Bồ-tát là gì? Từ khi mẹ tôi bị bệnh đến nay, đã nằm viện hơn 40 ngày, tiêu tốn gần 2 vạn đồng, mà bệnh tình ngày càng xấu đi, không có một chút khởi sắc.

Sau khi đưa về nhà niệm Phật, chí thành phát lộ sám hối, tức khắc bệnh tình được bớt hẳn, thật khiến người ta không thể lý giải, chính tôi ngoài việc cảm tạ ân của chư Phật, Bồ-tát từ bi gia hộ ra, cũng không tìm được cách giải thích hợp lý nào khác.
Nhớ năm xưa Hàn Tín Thọ ân chén cơm của bà già, mà còn nhớ suốt đời, huống gì tất cả nhà họ Trịnh của tôi thọ ân gia hộ của chư Phật, Bồ-tát gấp trăm ngàn vạn lần chén cơm của bà già, làm sao mà lại không nhớ? Nhưng chư Phật, Bồ-tát dùng vô duyên đại từ, đồng thể đại bi, trừ tam tâm, tuyệt tứ tướng, thì hạng phàm phu chúng tôi làm sao mà báo đáp cho đầy đủ đây?

Suy đi nghĩ lại, chỉ có dùng tâm thành kính thanh tịnh, đem chuyện có thật này ghi lại, hầu mong những người đã vào cửa, càng tăng trưởng tín tâm đối với Tam Bảo, vĩnh viễn không lui sụt, còn những người chưa vào cửa, nhờ đây thiện căn được tròn đầy, sớm bước vào cửa. Lại nguyện cho hết thảy chúng sinh, lìa khổ được vui, cùng sinh Phật quốc. Nam Mô A Di Đà Phật !


PHÁT NGUYỆN CHUYỂN NGUY THÀNH AN

(Trích Nhân quả báo ứng, những điều mắt thấy tai nghe_ Tịnh Tùng)

Ở huyện Quỳ Môn tỉnh Tứ Xuyên có cư sĩ Lý Bồi, năm Dân Quốc thứ 17 (1928) vì bọn thổ phỉ hoành hành, nên cư sĩ cùng vợ là Khâu Hoành Bạch chuyển nhà đến Huyện Vạn. Mùa thu năm Dân Quốc thứ 21, sau khi nghe Pháp sư Đại Dụng giảng kinh, hai vợ chồng phát tâm tham gia Đông Xuyên Phật Học Xã, kiền thành niệm Phật, chưa từng có tâm giải đãi.
Đến tháng 8 năm sau, Lý cư sĩ bị bệnh lỵ rất nặng, đưa vào bệnh viện chữa trị hơn 10 ngày vẫn không thấy khá hơn, các bác sĩ bảo đem ông về hỏi ông muốn ăn gì thì cho ông ăn và lo tang sự là vừa, vì bệnh lỵ của ông đã hết thuốc chữa rồi. Vợ con ông nghe xong sợ hãi khóc than thảm thiết, họ bèn đốt hương lên bàn Phật, cầu đức Phật A Di Đà, Bồ-tát Quán Thế Âm, xin các Ngài từ bi gia hộ cho ông được thoát khỏi kiếp nạn này, họ cầu:
“Nam Mô A Di Đà Phật !Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát! Xin các Ngài gia hộ cho chồng con được hết bệnh, nếu anh ấy hết bệnh thì con nguyện suốt đời giữ giới không sát sinh, lại ăn chay trường 5 năm và còn ấn tống Quán Âm Khởi Tín để khuyến hoá những người hữu duyên.”
Vợ con ông vừa cầu nguyện xong, Lý cư sĩ đột nhiên gọi vợ đến bên giường và nói rằng: “Vừa rồi anh thấy có một người đứng trước giường, màu da vàng óng giống các vị La-hán, đứng một lúc rồi ẩn.”
Cũng thuốc đó mà uống trong suốt 10 ngày không thấy hiệu quả, nhưng hôm nay uống lại thấy hiệu quả ngay, mấy ngày sau bệnh lỵ của cư sĩ bớt hẳn, thân thể khoẻ mạnh như xưa.Về sau, gia đình ông Lý đều thực hiện đúng như lời đã nguyện.


SỨC MẠNH CỦA TỤNG KINH SÁM HỐI

(Lời tự thuật của Sư Hải Đào)

Hồi lớp 5 tiểu học, tôi sống gần dòng sông Đạm Thủy Đài Bắc, Đài Loan. Chúng tôi gồm có ba đứa cùng học chung với nhau. Hai bạn tôi một đứa họ Trịnh, một đứa họ Trần. Mỗi ngày tan học xong thì chúng tôi rủ nhau đến sông Đạm Thủy bắt cua, bắt được cua thì bẻ càng bẻ chân nó mà chơi đùa, lấy làm khoái chí…Cứ nghịch như thế mãi rồi cuối cùng dùng đá đập chết luôn con cua.
Hôm đó trò chơi kết thúc, ba thằng nghịch chán rồi trở về nhà.Hai bạn tôi đi trên đường nhựa, còn tôi thì bước phía trong, mé bên lề cỏ. Đang đi mải miết thì tôi bỗng thấy trước mặt mình có một sợi dây lạ rất đẹp, mới chạy vội đến để nhặt lên xem….Hóa ra đó là một con rắn. Thật đáng sợ! Tôi kinh hãi ném vội con rắn đi và lo nhảy tránh. Con rắn cũng không cắn tôi mà vội bò đi ra xa thật nhanh. Nhưng tôi lại nổi giận lên nên lượm cục đá lên chọi vào nó…Thằng bạn họ Trần đứng cạnh tôi nhắc nhở:
– Gặp rắn mà không đập cho nó chết, tối về nhà nó sẽ tìm mày đó!
– Vậy hai đứa bây phụ tao đập nó nha.
Thằng bạn nói:
– Đập rắn phải nhắm vào đốt thứ bảy…
Tôi cho rằng đó chính là chỗ trái tim nó. Thế là chúng tôi ba đứa cùng ra đòn tưng bừng. Tôi cầm đá đập con rắn nhừ tử cho đến khi chết queo rồi dương dương tự đắc trở về nhà.
Bạn nghĩ việc này đến đây là xong rồi ư?Tôi cũng nghĩ vậy, thế nhưng nó không kết thúc đơn giản như thế.
Các vị à, ông bà mình chết rồi, vì sao phải cúng bái vậy?Bởi vì họ có đời sau, bạn hi vọng họ được siêu thoát, không phải làm quỷ. Chúng ta ai nấy đều tin người chết rồi còn có đời sau.
Các vị, một con chó, một con kiến, một con rắn, chết rồi có đời sau hay không? Có luôn đấy! Chắn chắn là có, trăm phần trăm chứ không phải chín mươi chín nữa. Nhưng do ngày xưa lúc còn nhỏ, chúng tôi đã không hề biết điều này. Cho nên sau khi đập chết con rắn rồi tôi còn rất lấy làm tự hào khoái chí mà đi về nhà.
Nửa năm sau, tôi lên lớp sáu trung học.
Tôi có hai người anh. Anh cả lớn hơn tôi hai tuổi, anh thứ lớn hơn một tuổi. Lần nọ, tôi cùng anh cả dành đồ chơi, không nhớ lúc đó tôi đã mắng anh ấy câu nói gì mà khiến anh nổi cơn thịnh nộ – trong khi anh em tôi xưa nay chưa từng gây cãi hay đánh nhau – Sau đó anh đã ném tôi vào tường, rồi đánh rất dã man. Anh hung tợn đấm vào ngực tôi đến độ tay anh nứt tét, lòi xương ra. Lúc này đột nhiên anh sực tỉnh và hét lên một tiếng thảm thiết vì thấy tay mình xương cốt nứt tét.
Khi đó, toàn thân tôi ê ẩm, đau đớn vô cùng.Tối đó chúng tôi về nhà bị mẹ vặn hỏi. Cả hai đứa đều không dám khai thật, cùng nói dối là “bị vấp té…rồi va vào tường”.Anh đi bệnh viện, tôi cũng đi bệnh viện…Và kể từ hôm đó trở đi, ngay năm đầu trung học, tôi đã bị cơn đau hành hạ, đau đến bao lâu?Xin thưa, tôi đau đến 35 tuổi.
Suốt thời gian này, chỉ cần tôi vừa nổi cơn sân giận hay uất ức, kể cả bị cha mẹ la mắng thì tôi khởi cơn đau liền. Mỗi lần tôi lên cơn đau, anh tôi nhìn tôi buồn rầu, áy náy…vì vậy anh rất ít khi nói chuyện cùng tôi, anh luôn cảm thấy bản thân mình có lỗi.
Tôi hoàn toàn không hiểu nguyên nhân cơn đau này cho đến trước khi xuất gia một tháng.
Tôi có một người bạn, anh ta có mắt âm dương, nghĩa là nhìn được cả hai cõi sống và chết. Anh ta không phải là tín đồ Phật giáo nhưng lại có khả năng ngoại cảm này. Người ta nhìn thấy thần, còn anh ta thì nhìn thấy quỷ, độc đáo lắm phải không. Có một lần nọ, khi đang đi bên cạnh anh ta, tôi nói với anh rằng tôi sắp xuất gia:
– Sau này tôi sẽ không còn đi chơi cùng với anh nữa, vì sắp cạo đầu rồi.
Anh bạn ngoại cảm này nhìn thấy được những điều mà mắt thịt chúng ta nhìn không thấy. Anh ta bảo tôi:
– Ối chà! Chú mày thường đau ở tim, nơi vùng ngực, đau ghê lắm phải không?
– Dạ phải.
– Tôi thấy có một con rắn hung tợn đang cắn xé ở đó. Đây chính là nguyên nhân đau đớn của chú.
Tôi bảo:
– Anh nhảm nhí gì vậy! Rắn nào mà cắn em chứ? Đây là do hồi nhỏ anh cả đánh em, tạo thành nội thương đó mà.
Anh mỉm cười nói:
– Điều này chú không biết đâu!
Tôi thầm nghĩ: “Đâu phải anh ta nói gì cũng đúng?”
Nhưng thật lạ lùng, anh vừa dứt lời thì tim tôi bắt đầu nhói đau. Tôi thấy rất ngạc nhiên. Bình thường phải có lý do gì đó thì mới làm tôi khởi phát cơn đau. Thế mà bây giờ khi anh vừa nói xong thì tôi cảm thấy đau ngay lập tức!
Anh liền hỏi:
– Trong đời, chú có từng giết qua con rắn nào không?
– Dạ có! – Tôi vừa đáp xong thì cảm thấy tim lại đau nhói lên…
Anh giải thích:
– Điều này rất dễ hiểu. Thật ra, con rắn đó sau khi bị chú giết chết rồi, nó đọa vào cõi quỷ (vẫn mang hình hài rắn)….
Ngay khi đó, ngực tôi liền đau kinh khủng. Nghe anh ta giải thích xong, cuối cùng tôi cũng đã hiểu ra nguyên nhân…
Con rắn đó từ lúc vô duyên vô cớ bị tôi đập chết đi rồi thì nó liền đầu thai vào cõi quỷ. Nếu nó mà tiếp tục đầu thai làm rắn thì nhiều nhất là gặp tôi, nó sẽ mổ cho một phát. Còn nếu đầu thai làm chó thì gặp tôi nó sẽ cắn, kết ác duyên cùng nhau. Nhưng con rắn này vừa đầu thai vào cõi quỷ lập tức đã có thể báo thù. Nó báo thù thế nào ư?
Tức là hồi năm tôi học trung học, như tôi đã kể, anh tôi vì một chuyện vặt vãnh nhỏ xíu mà đánh tôi một trận nhừ tử. Theo lời anh bạn giải thích thì đó là do hồn quỷ con rắn đó đã gá vào cánh tay phải anh tôi. Bởi hồi ban đầu chính tôi đã dùng tay phải cầm đá đập con rắn chết, tôi đập nó bao nhiêu lần thì khi báo thù, con rắn nó đã mượn cánh tay phải anh cả tôi – dồn “lực hận” vào đó rồi đánh tôi, cho tôi ăn đòn trở lại. Nó đã khiến anh cả đấm mạnh vào ngực tôi đến mức tét cả xương tay mà bản thân anh cũng chẳng hề hay biết. Do vậy mà tôi bị nội thương.
Lý do vì sao tôi bị đau suốt hai mươi mấy năm, cuối cùng cũng đã hiểu rõ. Sau khi minh bạch sự việc rồi, tôi liền quỳ xuống. Anh bạn ở cạnh cũng giúp tôi lập cách siêu độ cho con rắn, nhưng không có tác dụng gì.
Thế là tôi lại quỳ xuống và quán tưởng như có con rắn đang ở trước mặt mình. Tôi cúi đầu trước nó, thốt lời ăn năn xin lỗi như thế này:
– Thưa bạn, tôi không hề biết là bạn đã đau đớn nhiều như thế. Tôi không hề biết rằng khi tôi giết bạn rồi, bạn trở thành thống khổ như thế. Tôi hiện tại cũng rất khổ tâm vì lỗi lầm thời thơ ấu ngu si đã làm tổn hại bạn. Giờ phút này, tôi xin cúi đầu thành tâm nhận lỗi trước bạn. Ngày xưa tôi dùng đá đập bạn bao nhiêu lần thì ngày nay tôi xin khấu đầu trước bạn ngần ấy cái…
Sau đó tôi khấu đến đầu sưng lên chảy máu. Sau khi dập đầu tạ tội xong, tôi phát nguyện:
– Kể từ nay trở đi tôi tuyệt đối không bao giờ sát sinh hại mạng. Kể từ nay trở đi tôi tuyệt đối không bao giờ nổi giận (lúc đó tôi cũng sắp xuất gia rồi nên tôi phát thệ như vậy).
Trong khoảnh khắc đó, tôi đã tụng Bát Nhã Tâm Kinh nhiều lần và hồi hướng cho con rắn. Xong xuôi, tôi đứng dậy, thì bỗng thấy trọn cả lồng ngực và con tim trở nên mát mẻ dễ chịu hơn bao giờ hết, không còn đau đớn, thoải mái cực kỳ…Kể từ ngày hôm đó cho đến nay, tôi hoàn toàn không bị hành đau đớn gì nữa cả.
Quý vị ơi, đối với tôi mà nói, một lỗi lầm tưởng là quá bé nhỏ, cỏn con này, không ngờ lại có sức ảnh hưởng trầm trọng, gieo đau đớn cho thân xác đến suốt mấy mươi năm, chỉ vì lỗi giết một con rắn. Có đáng sợ không? Rất đáng sợ! Vì vậy mong quý vị hãy cẩn thận, đừng tạo nghiệp sát sinh để rồi ôm lấy Quả báo ác.
Bây giờ, tôi xin kể cho quý vị nghe thêm về một người bạn của tôi, một năm thì bị khó thở hết sáu tháng.Đi bệnh viện khám, chạy chữa đông tây y đủ hết vẫn không bớt bệnh.Có lần đang trò chuyện anh bị sặc sụa, nghẹt thở, bèn hỏi tôi:
– Có cách gì trị chăng? Chắc đây là nghiệp chướng của tôi.
Tôi bảo:
– Nếu là nghiệp chướng thì cũng phải tìm cho ra nguyên nhân. Nhất định là có nguyên nhân. Anh hãy nhớ kỹ lại xem, trong đời này anh có giết qua loài vật nào không và đã giết bao nhiêu?
Anh nói:
– Có, hồi đó tôi ở quê, nhà rất nhiều chuột. Ba mẹ tôi phải bẫy chuột và bắt được rất nhiều. Biết tôi ưa nhận nước chuột nên họ giao tôi đem cả lồng chuột ra dìm xuống sông. Tôi đã khiến chuột sặc sụa không thở được và chết đuối cả đám…Hễ chúng chưa chết thì tôi nhất quyết chẳng chịu lấy cái lồng chuột lên…Có lẽ vì vậy mà giờ bị báo ứng thế này!
Anh bạn tôi hàng ngày luôn sặc sụa vì nghẹt thở đến dở sống dở chết. Chư vị có thấy đáng sợ không? Tôi kể ra câu chuyện này không phải để dọa chư vị đâu, mà muốn cho các vị hiểu rõ Nhân quả báo ứng tơ hào không sai. Mong quý vị đừng sát sinh và mưu sinh bằng những nghề như thế.Hãy tự bảo vệ tốt cho mình.
* Sư Hải Đào là một vị xuất gia phóng sinh rất nhiều. Có một bài báo tường thuật Sư hướng dẫn người phóng sinh rất ấn tượng, vì buổi phóng sinh có đông người tham dự, cực kỳ vĩ đại và trang trọng. Trong số thủy tộc được thả còn có các động vật hoang dã và một con bò có mang. Khi được phóng sinh, nó đã hướng về Sư và quỳ xuống cảm tạ (bài báo đó có chụp hình lại)… ngoài ra Sư còn viết và biên soạn rất nhiều sách về báo ứng phóng sinh. Mong rằng câu chuyện của Sư sẽ đem lại nhiều lợi ích lớn cho tất cả mọi người.


MỘT BUỔI QUAN SÁT NHÂN QUẢ

( Trích Báo ứng hiện đời 6)

Nghe Viện Dịch Kinh thông báo có Cư sĩ Quả Khanh và con gái từ Thiên Tân đến chủ trì pháp hội, giải đáp về nhân quả, thế là tôi – Lý Thập Phương vội đến tham dự.
Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy cư sĩ Quả Khanh và con gái Quả Lâm của ông ( hai cha con Quả Khanh – Quả Lâm là những cư sĩ tu hành miên mật, đã đắc túc mạng thông, biết được nhân quả, nghiệp duyên của người khác).
Tôi hỏi mình mới hơn 20 tuổi, vì sao tim thường đau? Hơn nữa luôn bị suyễn, cảm thấy hay bị hụt hơi, khó thở… nhưng bệnh viện tìm không ra nguyên nhân. Tôi biết mình có bệnh, nhưng chẳng hiểu là do nguyên nhân gì, lúc ấy tôi hoàn toàn không nghĩ là mình bị bệnh do báo ứng nhân quả.
Khi nghe tôi nêu câu hỏi, cả hai cha con đều nhắm mắt chừng khoảng mười giây, không nói gì, sau đó thấy Quả Lâm gật gật dầu, rồi lại lắc đầu.
Sau khi mở mắt, cô ta bảo tôi: Trên mình chị có vô số tôm, cá, cua, các loài thủy tộc, hải sản …tất cả đều tranh nhau tố cáo tội lỗi chị đã gây ra với chúng cho tôi nghe, do vậy mà chúng không thể để cho chị sống an ổn…
Tôi lập tức phân bua là mình đã ăn chay …
Quả Lâm lại nhắm mắt tiếp, một lúc sau cô mở mắt bảo tôi:
– Những chúng sinh hành bệnh trên thân chị giải thích rằng: Dù đã ăn chay, nhưng nghiệp cũ thì vẫn còn, đã vậy, có lần dù đã ăn chay nhưng chị lại sốt sắng chỉ dạy, hướng dẫn người cách nấu đồ mặn, chẳng hạn như chế biến món tôm như thế nào …
Đến đây thì tôi cứng họng, ngẩn ngơ, vì câu đáp nằm ngoài sức tưởng của tôi.
Cả đời tôi chỉ có một lần dạy người khác chế biến món tôm, lúc đó không ai chứng kiến, vậy thì tại sao lại có kẻ biết rành như thế? Lẽ nào, những thần thức loài vật kia đều thấu rõ từng khởi tâm động niệm của tôi?
Hồi đó sống chung nhà trọ với tôi có một nữ sinh viên. Hôm nọ khi tôi chuẩn bị làm cơm, thì em cũng đang làm bếp. Trong lúc chờ đợi, tôi thấy em muốn làm món tôm nhưng vụng về không rành chế biến…
Trước khi ăn chay, tôi là vua ăn hải sản, nên các món tôm, cá, cua … tôi rất sành ăn, sành nấu. Ngay từ nhỏ tôi luôn được dạy: Ăn hải sản thì phải chọn loại đang còn sống mới ngọt, ngon, bổ dưỡng…
Nhìn thấy cô vụng về chẳng biết làm tôm như thế nào. Tuy tôi đã ăn chay nhưng tâm chưa thanh tịnh, nên tôi “đã nổi máu anh hùng, ra tay cứu giúp cho”…Tôi lên mặt thầy, chỉ cô bạn tỉ mỉ cách làm, cách nấu, phải chế biến tôm làm sao cho ngon, cho khoái khẩu…
Đến bây giờ thì tôi đã biết mình sai, nên ngay đây xin thành tâm sám hối. Đúng ra tôi không nên hướng dẫn chỉ dạy người cách làm đồ mặn… do vậy mà tôi bị thần thức con tôm oán trách, đeo theo báo thù…

Lúc đó tôi bật khóc, cảm thấy mình đã quá sai lầm. Ngay khi tôi thốt lời xin sám hối với các con vật từng bị tôi ăn, mà còn khuyên người đừng ăn. Khi đó tôi khóc mùi mẫn, nước mắt nước mũi chảy chèm nhèm, bất kể tại hội trường đông đến năm, sáu mươi người…
Bấy giờ thì cư sĩ Quả Khanh lên tiếng, ông nói tôi làm thế mới là chân thành sám hối. Ông khuyên tôi hãy bắt đầu niệm Phật để cầu Phật siêu độ cho các chúng sinh khốn khổ kia. Tôi mới niệm mấy câu Phật, thì Cư sĩ Quả Khanh nói:
– Phật A Di Đà đã xuất hiện ở phía trên trung tâm của hội trường…
Chúng tôi ngẩng đầu lên nhìn ( tất nhiên mắt thường thì không thấy gì), lúc này tôi có cảm giác cực kỳ lạ lùng, giống như vừa được nhấc tảng đá to ra khỏi tim, tôi cảm thấy lồng ngực cực kỳ sảng khoái dễ chịu và đã có thể thở một hơi dài thông suốt, nghe nhẹ nhõm khinh an vô cùng. Tim bây giờ đã hết đau, không còn khó chịu … thật không sao diễn tạ được trạng thái hạnh phúc, hân hoan lúc đó …
Ngay khi ấy tôi hướng về mười phương Chư Phật, Bồ tát đảnh lễ, cảm tạ đã ban cho chúng tôi cơ hội trùng sinh. Tôi cũng hướng về Cư sĩ Quả Khanh và Quả Lâm đảnh lễ…cảm tạ hai vị đã giảng giải, giúp tôi minh bạch nhân quả và còn chỉ cho phương pháp làm tiêu nghiệp. Nếu như trên con đường học Phật, tôi có được thành tựu nào, tất cả đều nhờ công đức to lớn của hai vị đã hướng dẫn.
Tiếp đến, Cư sĩ Quả Khanh và con gái bận rộn giải đáp nhân quả và bệnh hoạn của mọi người cho đến khi tan giảng.
Tối đó tôi về nhà rồi, phát hiện hai chân mình trước đây vốn không thể khoanh lại, nay đã có thể xếp bằng, còn có thể ngồi đến cả buổi. Nghe toàn thân nhẹ nhàng, có cảm giác công phu tu học Phật của mình đang tiến một bước dài so với trước đây.
Vì vậy tôi rất tự tin, cho là “Từ nay mình sẽ ổn, không sao nữa rồi”. Nhưng tối đó khi đi ngủ, tôi bỗng phát hiện ra một việc rất kỳ quái: Hình như có nhiều vật lạ đang du hành, lúc nhúc bò trên thân tôi, hơn nữa mục tiêu chuyển động của chúng thảy đều hướng về phía trái tim và lồng ngực của tôi. Việc này xảy ra lúc tôi còn chưa ngủ, thần trí cực kỳ tỉnh táo.
Tôi lặng lẽ theo dõi và phát hiện: Đầu tiên có nhiều vật đang bò từ khủy tay lên đến bắp tay tôi, đồng thời có nhiều loài đang bò từ đầu gối lên tới bắp đùi tôi, có nhiều vật đang bò từ bụng lên, những loài ở trên đầu thì đang di chuyển xuống …
Nghĩa là sau lưng, trước mặt, khắp trên thân tôi đều có nhiều vật đang di chuyển, có loài đi nhanh, có loài đi rất chậm. Nhưng tất cả đồng nhắm chung đích đến là: Tim và ngực của tôi, hình như chúng quyết chọn hai chỗ đó làm căn cứ trú ẩn.
Cả quá trình này diễn ra chưa đến một phút, tôi không thấy sợ hãi là nhờ đang niệm Phật. Tuy tôi đã đoán ra được phần nào sự việc, nhưng tôi cũng cần nhờ người có trí tuệ giúp mình xác minh cho chắc ăn.
Mấy ngày sau, tôi lại đến tham dự hội thuyết giảng nhân quả của Quả Khanh và Quả Lâm. Một Phật tử ngồi cạnh tôi cũng có khả năng nhìn ra nhân quả giúp người. Tôi bèn nhờ cô xem giùm: Hiện có loài thủy tộc nào chưa chịu theo chư Phật, Bồ tát mà còn đang trú trên thân tôi không ? Cô này quan sát khắp thân tôi một hồi, rồi đáp:
– Trên thân bạn còn rất nhiều loài thủy tộc, cá, tôm v.v…
– Còn bao nhiêu?
Cô nói:
– Nhiều lắm, nhiều không kể xiết. Chúng đeo khắp trên thân bạn. Nhất là hai nơi tim, ngực chứa đầy…
Sau đó tôi nhờ cư sĩ Quả Khanh và con gái ông giải thích, tôi đã hiểu rõ và nhận thức được như sau:
Do tôi hơn hai mươi năm nay đã ăn quá nhiều loài vật, nhất là loài thủy tộc… nên thân luôn bị đau nhức và mắc phải nhiều bệnh, bởi những con vật này tuy đã chết rồi, song oán khí chưa tan, nên thần thức chúng kéo đến trú cả trên thân tôi. Vì vậy mà nhất ngôn, nhất hạnh, nhất cử, nhất động của tôi… toàn bộ đều bị chúng nắm rõ.
Chúng biết tim là nơi trọng yếu của khí quan, ngực là nơi trọng yếu của tạng khí, cho nên chúng quyết định đóng đô ở đó! Đầu tiên chúng chọn ngụ ở tim, tiếp theo là ngực, rồi bụng đầu và tay chân…
Tùy theo số lượng chúng sinh tôi giết, ăn… tăng gia, mà tim và ngực tôi càng lúc càng bị bệnh nặng. Khi bọn chúng khó chịu thì xúm nhau cắn xé, chăm chích, rứt thịt tôi ăn … để giải hận. Đây chính là lúc tôi cảm thấy tim ngực mình phát đau tột cùng.
Sau khi Phật A Di Đà xuất hiện đem các chúng sinh trên thân tôi đi. Số nào đồng ý thì đi, số không ưng thì ở lại, tiếp tục hướng tôi báo thù, đòi nợ … Vì vậy mà ngay lúc tôi nghĩ rằng: “Mình đã ổn, không sao rồi”, thì ý tưởng đó rất ư là nhầm lẫn. Bởi vì, hãy thử nghĩ xem: Tôi có phúc đức công năng gì, mà có thể nương vào một vài câu niệm Phật hay chỉ một lần sám hối là có thể tiêu hết đại tội kia chứ?…
Những chúng sinh quyết ở lại không chịu đi này, đã nhìn thấy tim ngực tôi là hai chỗ trú đóng tuyệt hảo để báo thù, do vậy mà chúng quyết không lìa xa, còn tranh nhau giành chỗ… Đó là lý do vì sao tối đó khi ngủ tôi phát hiện ra có rất nhiều vật đang di chuyển trên thân mình. Có lẽ ban ngày chúng cũng “hành quân” tranh trau đi đến tìm, ngực tôi trú đóng, nhưng do ban ngày bận rộn, không yên tĩnh bằng ban đêm, nên tôi không phát hiện ra …
Từ khi tôi có “khách không mời mà tự đến đóng đô” như thế này rồi, thì kể từ đó tôi không thể ngồi Thiền, hiện tại tôi chỉ có thể ngồi xếp bằng tĩnh tọa khoảng một tiếng thôi.
Đã hiểu rõ vấn đề rồi thì phải giải quyết, do trên thân tôi có nhiều chúng sinh không chịu đi, mà sám hối là phương pháp giải oán rất hữu hiệu, nên tôi quyết định hành pháp sám hối, thỉnh cầu các oan gia tha thứ, tôi lễ sám, tạo phúc…cầu cho họ cũng là tự giúp mình.
Ngay đây tôi cũng nhớ lại một câu chuyện nhân quả mà Quả Khanh, Quả Lâm hòa giải không thành công :
“Có một vị Sư tu rất tinh tấn, nhưng tim bị đau trầm trọng. Cả hai cha con họ Dương đồng nhìn ra nguyên nhân là: Hiện có một con cá lớn đang đóng đô ở nơi tim vị ấy. Cư sĩ Quả Khanh và con gái đồng khuyên con cá, nhưng nó nhất quyết không chịu bỏ đi.
Sau khi Quả Lâm trò chuyện với nó một hồi rồi diễn dịch lại, thì mới biết cá này đang yêu cầu vị tu sĩ kia: Tự chính ông phải nhớ lại xem, đã giết nó lúc nào, nơi nào, lý do gì ? Nếu nhớ được và sám hối, thì nó sẽ bỏ đi ngay lập tức. Bằng không thì đừng hòng… và cũng miễn bàn hay điều đình chi nữa, nó cũng không cho Cư sĩ Quả Khanh và con gái xen vào nhớ giúp…
Vị tu sĩ khốn khổ này suy nghĩ mãi mà không thể nhớ ra… do vậy con cá kia không chịu đi.”
Tôi chẳng biết đến bây giờ ông ta đã nhớ ra chưa?
Tôi kể câu chuyện này vì muốn nói rằng: Oan có đầu nợ có chủ. Sau khi tôi sám hối xong thì Phật A Di Đà chỉ đem đi được một phần oan gia trái chủ đi thôi, số còn lại còn hơn một nửa, chúng không chịu đi và quyết trụ lại để báo oán ngay trên thân tôi.
Tôi tuyệt không nghi ngờ chi việc chư Phật, Bồ tát có thể giúp tôi tiêu nghiệp, nhưng các Ngài đã giúp rất nhiều rồi, phần còn lại phải do chính tôi tự cứu… và hóa giải oán kết cho đến bao giờ chủ nợ chịu tha thứ. Tôi cần phải nỗ lực nhiều, mình làm thì mình chịu, há chẳng phải trong kinh luôn giảng: Chúng ta cần phải sám hối rất nhiều hay sao?
Câu chuyện của vị Sư kia đã cung cấp cho tôi một phương pháp sám hối tốt, do một số oan gia trái chủ luôn muốn chúng ta nhớ lại mình đã phạm lỗi với chúng như thế nào, nên tôi bắt đầu hồi tưởng lại hết: Cố nhớ cho đủ các loài, bao gồm cả những gà, cá, vịt… tôi đã ăn và giết vào trường hợp nào, ăn bộ phận nào, nơi đâu, xơi nhiều ít, vào lúc nào? … Tôi ráng nhớ tỉ mỉ lại hết, sau đó vì chúng niệm Phật hoặc tụng chú Vãng Sinh để sám hối.
Tôi vừa khóc vừa niệm, bởi tôi phát hiện ra mình đã giết hại, làm tổn thương vật quá nhiều, do tôi sợ mình nhớ sót các chúng sinh, nên phải tìm quyển Bách khoa toàn thư mà tra thêm, kết quả tôi phát hiện thêm có một số chúng sinh đã bị tôi ăn qua và quên béng mất (do đã rất lâu tôi không ăn tới), vì bây giờ tôi đã ăn chay cho nên có rất nhiều chúng sinh bị tôi lãng quên. Tôi bèn vì chúng sám hối, hồi hướng và phát hiện ra cách này cực kỳ hiệu quả.
Khi tôi vừa bắt đầu sám hối, tu sửa… thì phát hiện có rất nhiều loài đang chuyển động trên thân, nhưng lần này không giống lúc trước, vì đích nhắm của bọn chúng là: Ra khỏi thân tôi. Chẳng hạn như từ đấu gối chúng di chuyển xuống mắt cá chân, chưa đến bàn chân thì đã biến mất không còn thấy nữa.
Sau đó, tùy theo số lần sám hối của tôi gia tăng, mà số vật trên thân giảm thiểu dần, sau này tôi có cảm giác hầu như không còn vật gì chuyển động trên thân mình nữa.
Tôi nghĩ, nếu như có thể mời thỉnh các chúng sinh này đi, thì đấy cũng là nhờ uy lực Chư Phật, Bồ Tát và công đức của danh hiệu Phật gia trì…
Nhờ chư Phật, Bồ tát đại từ đại bi gia hộ, tôi cũng hầu như không cảm thấy chút khó khăn nào để từ bỏ ăn mặn.
Tôi đã hiểu ra: Không nên cho người thức ăn mặn, cũng không nên mua đồ mặn cho người dùng. Giờ đây tôi tự biết tội mình đã tạo, nên thiết tha sám hối, tôi nghĩ số thức ăn mặn mình muốn ném bỏ kia, đáng lẽ không nên cho bất kỳ ai.
Sau khi tổng kết, tôi rút ra được tám điều quan trọng:
1. Tất cả những thức ăn mặn đều không nên ăn kể cả tam tịnh nhục, xin đừng vì khoái ăn mặn mà mượn cớ đó để dùng thịt, cá, chim, hải sản v.v…
2. Muốn tiến trên đường tu, trước tiên cần giải quyết dứt điểm các tội nghiệp mình đã tạo, đặc biệt là nghiệp ăn thịt chúng sinh. Sám hối là phương pháp tốt nhất.
3. Đừng một bề ỷ lại tất cả vào uy lực chư Phật, Bồ tát hay tha nhân sẽ giúp đỡ làm tiêu nghiệp tội của mình, bởi đây là việc không ai có thể chịu thay, vì oan có đầu, nợ có chủ.
4. Chúng ta có thành tâm sám hối hay không, Bồ tát và oan thân trái chủ của ta đều biết rõ, chẳng thể gạt được ai.
5. Đừng dạy người làm thức ăn mặn. Hiện tại tôi bắt buộc mình: Khi bị người hỏi cách làm món mặn như thế nào, tôi chẳng những không chỉ dạy mà còn khuyên họ: Nên nấu món chay.
Đây cũng bao gồm cả việc: Nếu người khác hỏi tôi một cân thịt giá bao nhiêu, tôi chẳng bao giờ hồi đáp. Tôi không cung cấp cho người bảng giá hay thực đơn thức mặn, không bao giờ tìm tiệm mặn giúp họ, tuyệt đối không cầm hay đem thức mặn đến cho người ăn, không bao giờ thốt lời mời người ăn mặn. Khi công ty đặt món, tôi luôn kiên trì yêu cầu họ đặt thức chay.
6. Nếu phải cùng ngồi chung bàn ăn, mà trên bàn có thức mặn, thì tôi không bao giờ vì lịch sự mà thốt lời mời người dùng.
7. Nếu không gặp bậc Đại thiện tri thức chỉ giáo cho, thì ta cần phải sám hối rất nhiều lần, mới có công hiệu. Bạn đừng nghĩ sám hối một lần là đối phương sẽ hết oán và tha thứ cho.
8. Nếu đã thực hành phương pháp sám hối, thì bạn chẳng nên nôn nóng, mà phải hết sức bền tâm, dần dần sẽ thấy có hiệu quả.
9. Tôi dùng phương pháp phân tích mới không bị thiếu sót, phương pháp này dành cho người ngu khờ (vì tôi vốn là kẻ ngu đần).
Thí như về loài cá, tôi từng ăn qua cá chim, cá chình, cá chép, cá diêu, cá nhám, cá vàng… thì tôi ráng nhớ rõ số cá chim… mình ăn qua bao nhiêu, ở nơi nào, cá chép tôi ăn qua nhiều ít, ở đâu? Cứ thế mà hồi tưởng và sám hối…Tiếp theo là thịt trâu bò, tôi đã ăn qua bao nhiêu, ở đâu? Kinh nghiệm của tôi là tuyệt đối không nên nhớ sót bất kỳ chúng sinh nào, cho nên khi nhớ rõ danh sách, sĩ số các loài chúng sinh bị hại thì bạn sẽ hiểu ra mình cần sám hối bao nhiêu lần mới được thanh tịnh.
Tôi đã sám hối rất nhiều rồi, khi thành công thì đêm về nằm an ổn, ngủ rất ngon.
Đấy là kinh nghiệm bản thân tôi, xin chân thành chia sẻ, mong quý vị đều được lợi.
Lý Thập Phương.


TỔNG KẾT

Như bạn đã thấy thông qua những câu truyện trong sách này, thuốc men và y học không phải là cách duy nhất chữa lành được bệnh tật. Mà ta có thể sử dụng phước báo , công đức để đẩy lùi bệnh tật. So với y học, dùng thuốc men để trị bệnh trên ngọn, thì phương pháp dùng phước báo có thể trị bệnh đến tận gốc rễ. Không chỉ có thế, bạn còn đạt được vô số ích lợi không thể nghĩ bàn nhờ quá trình tu tập theo Phật Pháp.
Tổng kết lại những phương pháp dùng Phật Pháp để trị bệnh ( các câu chuyện trong sách này đã đề cập được một số , nhưng thực ra còn có những phương pháp khác rất hiệu nghiệm chưa được đề cập đến, xin được giới thiệu luôn để quý vị có được cái nhìn toàn diện ), bạn cần thực hiện theo các bước sau đây để nhanh chóng dứt trừ các căn bệnh đang ngày đêm hành hạ bạn.

Bước thứ nhất : Dừng tay tạo nghiệp.

Bạn phải hiểu được rằng, bệnh tật sở dĩ có mặt là do những sai lầm, những tội lỗi, những nghiệp xấu của bạn trong quá khứ. Nó không hề ngẫu nhiên, có thể do nghiệp của kiếp này mà bạn nhớ được, cũng có thể do nghiệp kiếp trước mà bạn không biết, nên thay vì óan trời trách đất bất công, ta nên quay lại chính mình để tu sửa. Trước hết là bạn phải dừng tay tạo nghiệp, không được sát sinh nữa, không được tạo thêm các nghiệp như tà dâm, ác khẩu, chiếm đọat, rượu chè.v.v…nữa và hãy cố gắng ăn chay, vì ăn mặn cũng là thúc đẩy cho việc sát sinh.
Nếu như bạn không chịu dừng tay tạo nghiệp thì mọi công đức của bạn xem như vô ích. Giống như người nghiện thuốc lá đến nỗi bị lao phổi, anh ta liền uống các lọai thuốc tốt nhất để trị bệnh phổi, song lại chẳng chịu bỏ thuốc lá, hàng ngày vẫn cứ đều đặn hít vào phổi cái thứ khói đầy độc tố ấy. Thế thì dù anh ta có uống thuốc tiên cũng chẳng bao giờ khỏi bệnh được. Vậy bạn hãy nhớ điều thứ nhất : dừng tay tạo nghiệp !

Bước thứ hai : Sám hối tội chướng .

Sám hối là một pháp tu chuyên tiêu trừ các ác nghiệp trong quá khứ, nghiệp đã tiêu trừ thì bệnh tật, khổ đau cũng tiêu tan. Nếu bạn nhớ được, biết được những tội lỗi đã gây ra trong kiếp này, với những người nào, chúng sinh nào, thế thì bạn hãy hướng tới những người đó, chúng sinh đó mà ăn năn, sám hối những sai trái xưa kia. Đặc biệt trong phần Phụ lục của sách này, có một nghi thức “Sám hối & cầu siêu cho oan gia trái chủ”, rất chi tiết, cụ thể, có công năng hóa giải nhanh chóng các mối hận thù của mọi loại oan gia trái chủ.
Nếu bệnh của bạn chủ yếu do oan gia trái chủ hành, thì sau khi cúng theo nghi thức sám hối này khoảng 7 lần, bạn sẽ hiệu quả rất rõ rệt.
Còn với những tội từ nhiều kiếp quá khứ, hay những tội không nhớ biết hết được , có một cách chung để hóa giải, đó là bạn phải tụng đọc nhiều lần 2 bộ sám nổi tiếng : Từ Bi Thủy Sám và Lương Hòang Sám.
Tụng đọc đến đâu, khởi tâm sám hối, ăn năn đến đó. Đây là những bộ sám rất đầy đủ và hòan chỉnh, có công năng sám hối diệt tội vô cùng mạnh mẽ, đảm bảo nếu bạn thành tâm tụng đọc thường xuyên sẽ giải được vô số nghiệp chướng của quá khứ, đẩy lùi các căn bệnh và đau khổ.

Bước thứ ba : Bù đắp bằng công đức.

Để cho sự sám hối của bạn mạnh mẽ hơn, hiết thực hơn, để việc chữa lành bệnh tật trở nên nhanh chóng, hiệu quả hơn, bạn cần phải tạo thật nhiều phước lành , tích chứa nhiều công đức để bù đắp cho các nghiệp, các tội trong quá khứ. Đây là vấn đề then chốt và cực kì quan trọng nếu bạn muốn nhanh chóng hết bệnh.
Bạn có thể chọn một, hai cách , hay tốt nhất thì nên chọn tất cả các cách tạo công đức sau đây để thực hành tùy theo điều kiện của mỗi người.

1- Niệm Phật
Niệm danh hiệu Phật và các vị Đại Bồ Tát là phương pháp dễ thực hiện nhất nhưng kết quả thật vi diệu và thù thắng, nên chắc chắn bạn không thể bỏ qua. Vì phương pháp này một nửa là do phước niệm Phật của bạn, một nửa là do sức gia hộ của chư Phật, chư Bồ Tát. Bạn càng niệm nhiều, sức gia hộ của các Ngài càng mạnh, vì chư Phật và Bồ Tát không phải không muốn cứu bạn, mà cần phải có duyên giữa bạn và các Ngài.Thông qua câu niệm Phật, duyên lành, hay nói một cách khác, sự kết nối của bạn với các Ngài tăng trưởng dần dần, và sự gia hộ của các Ngài cũng sẽ mạnh dần lên. Đây cũng chính là phương pháp được sử dụng nhiều nhất, khiến nhiều người khỏi bệnh nhất.
Trừ ra khi đang trong nhà vệ sinh hoặc những lúc tế nhị khác, còn lúc nào, nơi nào bạn cũng có thể niệm Phật : “ Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật !” – “ Nam Mô A Di Đà Phật !” – “ Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát Cứu Khổ Cứu Nạn !” .v.v…. bạn có thể niệm danh hiệu của vị nào tùy ý. Niệm thành tiếng được thì tốt hơn, nhưng nếu hòan cảnh không cho phép thì có thể niệm thầm. Chỉ cần thành tâm và kiên trì niệm một ngày ít nhất từ 1000 cho đến 10.000 câu niệm Phật, bạn sẽ bất ngờ vì kết quả đạt được.

2- Lạy Phật -Phát nguyện
Cao hơn niệm Phật là lạy Phật, vì đó là sự kết hợp của tâm niệm Phật và thân lễ lạy. Đồng thời bạn cũng có thể kết hợp sám hối, phát nguyện … trong lúc lạy Phật. Hiệu lực hóa giải sẽ tăng lên rất- rất nhiều lần. Nếu có thể , bạn hãy duy trì lạy Phật mỗi ngày 100 lạy, vừa lạy vừa sám hối từng tội từng tội một , hoặc sám hối chung cho tất cả mọi tội lỗi. Còn về cách Phát nguyện, có vô số lời nguyện khác nhau tùy tâm mỗi người , nhưng nếu bạn phân vân không biết nên Phát nguyện thế nào, xin giới thiệu dưới đây lời nguyện có công năng đặc biệt vi diệu được tổng hợp từ các kinh Đại Thừa để bạn tham khảo ( Nếu bạn chọn Phát nguyện theo cách này, bạn nên học thuộc chính xác từng từ để đạt được hiệu quả cao nhất ):
“ Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật ! Nam Mô A Di Đà Phật ! Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát ! Con xin nguyện trong tất cả các kiếp về sau, con sẽ lìa xa tất cả mọi điều bất thiện về thân- khẩu – ý, quyết tâm tu tập theo tất cả lời dạy của Phật, theo gương Phật giữ tâm không chấp tướng mà hóa độ cho tất cả chúng sinh đều đạt được Phật Quả Tối Thượng! Xin Mười Phương Chư Phật chứng minh !”

3- Tụng đọc Kinh điển
Công đức tụng đọc Kinh điển ( đọc là nhìn vào kinh mới đọc được , còn tụng là không nhìn kinh mà đọc thuộc lòng ) là vô cùng mạnh mẽ và vi diệu không thể cân đong đo đếm được, giải trừ tội chướng, tăng trưởng phước đức, trí tuệ vô lượng. Ý nghĩa của việc tụng Kinh cũng giống như việc cài đặt các phần mềm vào máy tính, tụng đọc Kinh điển hiểu một cách sơ lược là nhiếp tâm ý của bạn vào lời dạy vàng ngọc của Đức Phật, khiến cho thân – khẩu – ý của bạn hòa vào lời Kinh, diệt trừ mọi thứ bất thiện, phát sinh vô số hạnh lành trong hiện tại và tương lai, tạo ra công đức tuyệt đối. Đó chỉ là nói sơ sài, đại khái, còn thật sự ý nghĩa tụng kinh còn vĩ đại hơn vô vàn lần.
Trong số các Kinh điển Phật giáo, thì Kinh Địa Tạng và Phẩm Phổ Môn của Kinh Pháp Hoa được xem là những bộ Kinh tiêu tai giải nạn thù thắng, mạnh mẽ nhất. Nhưng bạn cũng có thể tụng đọc các Kinh điển khác như Bát Nhã Tâm Kinh, Kinh Kim Cang, chú Đại Bi trong kinh Đại Bi Tâm Đà Ra Ni …cũng sẽ đạt được kết quả vô cùng lớn lao.
Điều quan trọng là bạn phải hiểu rõ ý kinh, như thế công đức mới lớn, còn tụng đọc mà không hiểu thì công đức ít hơn rất nhiều ( trừ ra các loại thần chú như chú Đại Bi, chú Lăng Nghiêm… thì không cần hiểu nghĩa ). Nên lời khuyên dành cho những người mới biết Đạo Phật là nên đọc tụng Kinh Địa Tạng, vì lời Kinh rõ ràng, ý Kinh dễ hiểu, phù hợp với mọi căn cơ.
Ngoài ra Địa Tạng Vương Bồ Tát còn có một câu thần chú, oai lực phi thường, có thể giúp tiêu trừ nghiệp chướng một cách nhanh chóng ngoài sức tưởng tưởng. Rất nhiều người chỉ trì tụng một câu thần chú 8 chữ này mà bệnh tật lành hẳn trong một thời gian rất ngắn. Đó chính là Diệt Định Nghiệp Chân Ngôn :
ÔM (PỜ) RA MA NI ĐA NI XOA HA

Để việc tụng Kinh đạt được công năng hóa giải tối đa, bạn phải ăn chay ( ít nhất trong thời gian tụng Kinh) Nếu gia đình có bàn thờ Phật thì tụng đọc trước bàn thờ, nếu không thì chọn một nơi sạch sẽ, yên tĩnh để tụng đọc. Bạn nên quỳ tụng nếu có thể, vì sự thành tâm càng lớn bao nhiêu, hiệu quả càng lớn bấy nhiêu. Còn nếu không được thì ngồi xếp bằng ngay ngắn cũng được .
Khi tụng Kinh, không nhất thiết phải đánh chuông mõ, tụng ngân nga như các vị sư trong chùa. Bạn chỉ cần đọc thành tiếng rõ ràng, mạch lạc, đọc truyền cảm được thì càng tốt ( Nếu sợ ảnh hưởng đến xung quanh thì có thể đọc thầm bằng mắt ) Điều quan trọng nhất là phải tập trung vào lời Kinh , không để tâm suy nghĩ lung tung các chuyện khác. Tùy theo nghiệp mỗi người nặng nhẹ khác nhau mà ít thì tụng đọc từ 7lần, nhiều thì tụng cho đến 108 lần Kinh Địa Tạng sẽ thấy kết quả vô cùng vi diệu.

4- Phóng sinh
Có thể nói đây là cách làm phước nhanh nhất khi bạn có điều kiện kinh tế. Nếu bạn không rành về phóng sinh, lời khuyên dành cho bạn là không cần để ý đến ngày tháng nào, cứ lặng lẽ ra chợ mua các loài thủy tộc như ốc, hến, lươn, ba ba, cá trê… vì chúng sống dai, không lo bị chết giữa đường. Rồi tìm một cái hồ, hay sông suối… để thả phóng sinh, như thế là bạn đã cứu sống rất nhiều sinh mạng.
Bạn cần phải cân nhắc kĩ về nơi thả chúng liệu có an toàn hay không, có phù hợp môi trường sống của chúng không, vì nếu không phù hợp, chúng có thể bị chết ngay, hoặc bị người ta bắt lại ngay ( ví dụ như thả cá nước ngọt vào chỗ nước lợ, nước mặn thì cá sẽ chết ngay lập tức ) và việc phóng sinh của bạn thành công dã tràng. Bạn nên tụng Nghi thức phóng sinh (trang 136) trước khi thả phóng sinh, sẽ đạt được phước báo lớn hơn ngàn vạn lần .
* Lưu ý : tuyệt đối không nên mua chim người ta bắt nhốt sẵn với mục đích chờ bạn mua để phóng sinh.Vì chúng vốn tự do trên trời, bởi có người mua nên mới có người đi bắt nhốt, chờ có người mua phóng sinh. Việc phóng sinh như thế không có phước gì mà còn thúc đẩy người ta tạo tội thêm mà thôi.

5- Ấn tống Kinh – sách thiện
Ấn tống là một hình thức bố thí Pháp, mà như lời Phật dạy thì bố thí Pháp là vua của mọi loại Bố thí. Việc ấn tống, in Kinh, tặng sách thiện cho mọi người là công đức vô cùng vô tận, vì ấn tống có thể sản sinh ra mọi việc lành khác, nhưng đòi hỏi người ấn tống phải có một hiểu biết nhất định về Kinh – sách. Vì khi chọn sách ấn tống, bắt buộc phải là sách hướng con người ta đến điều thiện, nếu không thì chẳng có công đức gì, có khi ngược lại, tạo thành tội rất nặng nếu như sách đem tặng là loại sách kích động bạo lực, yêu đương, tình dục… Rồi bạn cũng phải cân nhắc việc tặng cho ai ? Liệu người ta có đọc hay chỉ đem về quăng xó, hoặc tệ hơn là đem nhóm bếp, đây là điều thực tế đã xảy ra, và xảy ra rất nhiều.
Cách an toàn nhất là trước tiên, bạn nên tìm đến các ngôi chùa, gặp quý Tăng Ni và hỏi xem, quý sư và Phật tử có thiếu, có cần loại Kinh sách gì không, số lượng bao nhiêu, rồi sau đó mới in ấn và đem cúng đúng những loại Kinh sách đó.
Hoặc một cách khác đơn giản và rất thực tế, là bạn hãy đem chính cuốn ” Trị dứt bệnh nan y bằng Phật Pháp” này photo thành nhiều bản, rồi tặng cho những người bệnh khác có hoàn cảnh giống như bạn. Đó sẽ là món quà vô giá đối với họ, vì quyển sách này không chỉ giúp người ta tăng thêm tri thức, mà còn là phương thuốc kì diệu chữa lành các căn bệnh của họ.
6-Tất cả các việc thiện khác
Mọi việc thiện bạn làm đều sẽ giúp bạn giải trừ nghiệp chướng, mau chóng lành bệnh. Như xây chùa, đúc tượng Phật, hiến máu nhân đạo, bố thí tiền, gạo, thuốc men cho người nghèo, xây cầu đắp đường, thăm nuôi trẻ mồ côi.v.v… và v.v… Tuy nhiên, mỗi việc đều có cái khó riêng của nó, bạn phải tìm hiểu và suy xét kỹ về hiệu suất, tính thực tiễn, tính chân thực, cách thức làm… của mỗi việc trước khi thực hiện.


Sau khi đã tạo công đức xong, việc cuối cùng là hồi hướng công đức. Ý nghĩa của việc hồi hướng là định hướng quả báo của những việc phước thiện bạn đã làm sẽ đi về đâu, nếu không phước báo sẽ tự đi theo cách của nó chứ không theo ý muốn của bạn.
Nếu bạn là người bệnh và chính bạn thực hiện các việc phước thiện, thì bạn khấn như sau:
“ Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật ! Nam Mô A Di Đà Phật ! Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát ! Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát ! Con nguyện đem công đức này cầu sám hối tất cả các nghiệp chướng khiến con bị bệnh khổ như ngày nay. Nếu bệnh đây là do các oan gia trái chủ đến đòi nợ, xin hồi hướng công đức này cho các vị oan gia ấy để hóa giải mọi món nợ, mọi hận thù. Con nguyện tất cả các kiếp về sau sẽ đoạn trừ mọi điều bất thiện, tu tập tất cả các hạnh lành để cầu Phật Quả Tối Thượng. Xin chư Phật từ bi chứng minh cho con !”
Nếu bạn là thân nhân của người bệnh, bạn cũng có thể làm các công đức rồi hồi hướng cho người bệnh. Có điều công đức đó bạn sẽ hưởng 6/7, còn người được hồi hướng sẽ chỉ nhận được 1/7 phước bạn làm. Có nghĩa là nếu người bệnh không tự thân làm công đức, thì người thân phải làm gấp 7 lần so với trường hợp người bệnh tự làm. Sau khi tạo công đức xong, bạn khấn như sau:
” Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật ! Nam Mô A Di Đà Phật ! Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát ! Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát ! Con nguyện đem công đức này hồi hướng cho…(họ tên người bệnh) được tiêu trừ những nghiệp chướng trong quá khứ khiến cho ngày nay bị bệnh tật như thế. Nếu bệnh này là do các oan gia của …( họ tên người bệnh ) đến đòi nợ, xin đem công đức này hồi hướng cho các vị oan gia ấy hóa giải mọi thù hận để cho …(họ tên người bệnh) sớm ngày bình phục. Con nguyện vĩnh viễn về sau sẽ đoạn trừ mọi điều bất thiện, tu tập tất cả các hạnh lành để cầu Phật Quả Tối Thượng. Xin chư Phật từ bi chứng minh cho con !”


Trên đây là 3 bước thiết yếu bạn cần thực hiện đầy đủ để dứt trừ tận gốc rễ các căn bệnh đang hành hạ bạn. Cả 3 bước đều quan trọng như nhau, bạn chớ nên xem nhẹ một bước nào mà bỏ qua, vì nếu bỏ qua bất kì bước nào, khả năng lành bệnh xem như không đảm bảo nữa.
Vì nghiệp mỗi người có nặng, có nhẹ khác nhau, nên khi thực hành theo những phương pháp trong sách này, có người chỉ mới niệm Phật hay phát nguyện… sơ sơ, đã thấy lành bệnh rất nhanh, nhưng đa số phải lâu hơn rất nhiều, phải làm nhiều công đức hơn mới khỏi. Thế nên, bạn phải kiên trì và nghiêm túc thực hiện đúng theo các chỉ dẫn trong sách này, không nên chỉ tụng vài bộ Kinh, phóng sinh vài kilogam ốc, lươn… mà mong bệnh phải khỏi ngay lập tức. Việc gì cũng cần có thời gian của nó.
Và điều cuối cùng bạn nên biết, thực ra phương pháp được đề cập trong sách này không chỉ có mỗi tác dụng chữa lành bệnh tật, mà công dụng của nó là vạn năng. Chẳng qua vì hướng đến những người bệnh đang cầu thuốc , nên từ đầu sách tới giờ chỉ nói tới tác dụng trị bệnh, còn thực ra phương pháp này là giải trừ hết thảy các loại nghiệp chướng, tăng trưởng phước đức, khiến mọi điều mong cầu ( trừ những điều xấu ác) đều được đạt như ý nguyện mong cầu.
Cho nên thực hiện theo những phương pháp này , sẽ giúp quý vị có thể cầu cho cuộc sống được may mắn bớt tai ương, cầu sinh con, cầu tiêu tai giải hạn, cầu thi đỗ, cầu siêu cho thân nhân đã mất, cầu thay đổi vận mạng, cầu tìm người thân thất lạc.v.v… chỉ cần thay đổi ở lời khấn hồi hướng, quả báo sẽ đi theo ý nguyện của quý vị.
Ví dụ bạn muốn cầu sinh con trai, thì sau khi sám hối, niệm Phật và làm các công đức khác, thì khấn “ Con nguyện nhờ công đức này , mà con sẽ sinh được con trai tài ba, đức độ hơn người.”, và cứ kiên trì làm vậy, bạn sẽ sinh được con như ý nguyện, những điều khác cũng tương tự như vậy.
Để chứng minh cho quý vị hiểu tính vạn năng của Phật Pháp, dưới đây xin đơn cử hai câu chuyện trong vô số câu chuyện mà người ta đã ứng dụng Phật Pháp để được toại ý nguyện, xin giới thiệu để quý vị tham khảo :


CẢI SỐ

Viên Liễu Trang là một nhà tướng số danh tiếng Trung Quốc thời xưa. Nhìn chỉ tay hay cái mũi của một người nam hoặc nữ, ông có thể đoán biết trước vận mạng tương lai của họ. Một hôm có một vị đại thần dắt con đến nhờ ông xem tướng. Viên Trang coi tướng xong biết đứa bé này vài năm sau sẽ chết. Ông liền bảo cho vị quan kia hay.
Nghe nói vậy, vị quan ấy rất đau khổ. Trên đường về nhà ông đến gặp một vị sư. Vị tăng hỏi: “Có việc gì xảy ra mà trông ngài sầu não như thế?”
Vị quan đáp rằng ông vừa mới nghe nhà tướng số báo cho biết một tin chẳng lành. Hòa Thượng liền xem tướng đứa nhỏ để tìm hiểu vận mạng của nó. Ngài nói với cha em bé: “Chỉ có phước đức mới cứu được mạng sống của cháu. Nhưng cơ duyên làm phước không phải dễ. Nếu ngài muốn có phước đức thì cách tốt nhất là nên phóng sinh. Tạo phước đức bằng hành động thiện không giết hại sinh vật mới có thể bảo vệ mạng sống cho con ông.”
Nghe lời Hòa Thượng, vị quan kia liền phát nguyện không bao giờ sát sinh mà lại còn phóng sinh. Ông tinh tấn làm lành như vậy được ít năm.Sau đó gặp lại cha con ông, Hòa Thượng bảo: “Chưa đủ! Ông cố gắng tạo thêm nhiều thiện nghiệp nữa mới có thể cứu được mạng sống của con ông”.
Viên quan lại nỗ lực cứu thoát nhiều sinh vật nữa. Khi gặp dịp làm phước giúp đỡ ai, người cũng như thú vật; ông luôn luôn sẵn sàng đóng góp thời giờ lẫn tiền bạc. Nhờ vậy, viên quan đã cứu độ vô số sinh linh, và người con đến năm bị chết yểu nó vẫn sống và biến đổi trở thành một thanh niên khỏe mạnh.
Nhà tướng số Viên Liễu Trang biết sự việc này. Từ đó về sau, mỗi khi coi thấy người nào có vận mạng xấu, ông liền khuyên bảo họ nên cố gắng làm việc phước đức và đừng bao giờ sát sinh. Nhờ tu nhân tích đức mà nhiều người đáng lý sẽ phải chết sớm, khổ đau, họ lại sống trường thọ; nhiều kẻ nghèo khó trở nên giàu sang.


NIỆM PHẬT CHUYỂN HÓA ĐƯỢC
CON HƯ

Có lẽ đối với bậc làm cha mẹ, ai cũng mong ước con mình trưởng thành, ngoan ngoãn vâng theo lời cha mẹ, có công ăn việc làm, ổn định cuộc sống. Tuy nhiên “Cha mẹ sinh con, trời sinh tính”, nếu không may, cha mẹ nào có đứa con ngỗ nghịch, hung dữ thì cũng đành ngậm đắng nuốt cay, chứ mọi lời khuyên bảo dường như nước đổ lá khoai. Nhưng thông qua câu chuyện dưới đây, hi vọng quý vị sẽ tìm được hướng giải quyết cho bài toán nan giải này.
Bác Nguyễn Định Kế sinh năm 1940, sống tại Lâm Hà, Lâm Đồng. Con trai bác, pháp danh Diệu Âm Quảng Hiền, sinh năm 1971, là tài xế chạy xe tuyến đường từ Bắc vào Nam, nhưng anh rất ngỗ nghịch, thích nhậu nhẹt và đánh nhau. Trong cốp xe anh luôn có thủ sẵn kiếm, dao, gậy v.v. bản tính anh dữ tợn, lúc nào cũng nóng nảy, sẵn sàng đâm chém, đánh người và tự hủy hoại mình.
Cha mẹ anh rất khổ tâm vì có người con ngổ ngáo như anh, trong xóm ai cũng gọi anh là “Tí điên”. Mỗi khi nghe nói đến anh, ai cũng lắc đầu ngán ngẩm và tránh xa. Mặc dù, anh nhậu nhẹt nhiều, nhưng chủ các quán nhậu rất sợ anh đến quán, bởi vì khi anh đến là họ mất khách, hoặc đánh khách hàng của họ. Anh còn lôi kéo cả đàn em nhậu để đi đánh người và không hề xem việc tù tội là việc đáng sợ.
Vợ chồng bác Kế vô cùng khổ tâm về đứa con hung bạo như thế. Bản thân bác tu học theo Phật pháp rất lâu, cũng hướng cả gia đình quy y Tam bảo với Hòa thượng Thích Thanh Từ. Bác đã từng tu học qua các pháp môn Thiền tông, Mật tông v.v. nhưng cuối cùng bác tu theo pháp môn niệm Phật.
Một hôm, bác xem đĩa giảng pháp của thầy Giác Nhàn. Bác cảm nhận được sự vi diệu câu Thánh hiệu “Nam Mô A Di Đà Phật !” , nên về sau thường tham gia những ngày chuyên tu tại tịnh thất. Bác tâm sự với Thầy về hoàn cảnh người con trai hư hỏng của mình, nên rất buồn khổ vì con. Thầy hướng dẫn bác cách tu tập tụng kinh, niệm Phật, lạy sám hối…đem công đức này hồi hướng cho con quay đầu, sửa đổi tâm tính. Bác tinh tấn tu theo được hai tháng vẫn không thấy chuyển biến gì, nên lên trình với Thầy. Thầy dạy bác phải kiên nhẫn tiếp tục tu tập. Khi bác tu chưa hết tháng thứ ba thì bác đã chuyển hóa thành công được tâm đứa con trai tưởng như bất trị.
Ngày hôm đó, bác hết sức bất ngờ thấy anh con trai tự nhiên xung phong chở bác lên chùa để gặp Thầy, cho anh tu học, niệm Phật, lạy Phật. Kế đến, anh tập ăn chay, niệm Phật thường xuyên; dần dần về sau, anh theo cha nhập thất chuyên tu một tuần. Không những bản thân anh tu học mà còn về nhà khuyên vợ tu theo.
Hiện nay, chẳng những anh tìm được sự an lạc bằng cách thực hành theo Phật pháp, mà còn ăn chay trường. Nếu có bạn bè xấu ngày xưa rủ rê, anh đều từ chối, lánh hết duyên xấu, chỉ theo cha lên Tịnh thất Quan Âm tu tập.
Khi kể lại chuyện này, bác Kế cảm động nước mắt tuôn trào nói: “Phật pháp thật nhiệm mầu, câu Thánh hiệu ‘Nam Mô A Di Đà Phật’ thật không thể nghĩ bàn!” Nhờ công đức tu tập mà bác chuyển hóa con trai hư hỏng trở thành Phật tử, biết ăn chay, tinh tấn tu học.
Đời này, chúng ta phải phát nguyện nương theo Phật lực để thoát khỏi sinh tử luân hồi, không còn con đường nào hay hơn. Một câu Thánh hiệu “ Nam Mô A Di Đà Phật !” có diệu dụng chứa vô lượng công đức. Chúng ta tu tập xưng danh hiệu Ngài, hồi hướng công đức này làm nhân vãng sinh về Cực Lạc thì không gì bằng!

Bác Nguyễn Định Kế và con trai
(Diệu Âm Lệ Hiếu kính ghi lại từ đĩa “Sự nhiệm mầu của pháp môn Tịnh Độ” – Tịnh Thất Quan Âm, Lâm Đồng)


ĐÔI LỜI NHẮN GỬI
Nếu như bạn thực hiện theo những phương pháp trong sách này mà bệnh tình được bình phục, đạt được những kết quả tốt đẹp. Mong bạn hãy bớt chút thời gian chia sẻ câu chuyện của bạn về cho chúng tôi, để ngày càng có nhiều người hiểu và thực hiện theo “ bí quyết” này. Sự chia sẻ của bạn sẽ là món quà vô giá đối với chúng tôi, đối với cuộc đời này, vì nó không chỉ có thể cứu nguy cho tính mạng, sức khỏe, mà còn cứu vớt được linh hồn của rất nhiều người .
Xin liên hệ: Quang Tử, điện thoại: 01658.915535. Hoặc facebook :
https://www.facebook.com/profile.php?id=100008080300195

Cuối cùng, xin chúc bạn mọi nghiệp chướng đều tiêu trừ, mọi công đức đều thành tựu, sớm ngày bình phục, thân tâm thường an lạc.
Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật !
Nam Mô A Di Đà Phật !
Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát !
Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát !


PHỤ LỤC

NGHI THỨC SÁM HỐI & CẦU SIÊU
OAN GIA TRÁI CHỦ

https://nhanqua.com.vn/http-nhanqua-com-vn-nghi-thuc-sam-hoi-oan-gia-trai-chu/

 

NGHI THỨC SÁM HỐI OAN GIA TRÁI CHỦ

 

 


 

 

 

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here